Phụng Vụ - Mục Vụ
Đức Công Chính
Lm Vũđình Tường
16:34 07/01/2026
Đức công chính, việc lành thánh, trong trường hợp không bị bắt buộc nhưng nếu có thể cũng nên thực hiện. Đây là điều Đức Kitô đáp khi Ngài đến nhận phép rửa. Gioan nói
Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi'.
Đức Giêsu đáp
Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính Mt 3:14-15
Năm chữ 'Bây giờ cứ thế đã' xem ra có vẻ rời rạc không liên quan mấy đến câu tiếp theo. Đúng vậy năm chữ 'Bây giờ cứ thế đã' đóng một vai trò quan trọng mà tương lai sắp hé mở cho biết Đức Kitô là ai?. Bây giờ cứ thế đã, cứ chấp nhân như thế đi, để rồi tương lai sẽ rõ hơn. Đúng thế, hiện tại chưa rõ nhưng tương lai mặc khải điều huyền diệu. Điều nhiệm mầu này xảy ra không phải lúc Đức Kitô đang nhận phép rửa mà xảy ra cách rõ ràng, công khai, mạch lạc ngay sau đó.
Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên' Mt 3:16
Đám đông được chứng kiến và học biết nhiều điều mới lạ, từ trước tới nay chưa từng xảy ra. Trước hết là các tầng trời mở ra. Theo sau đó là Thần Khí Thiên Chúa hiện đến dưới dạng chim bồ câu đáp xuống trên Đức Kitô và liền theo đó là tiếng vang vọng từ không trung vọng xuống
Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người Mt. 3:16-17
Bây giờ cứ thế đã để rồi mọi người nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng có Thánh Thần Chúa ngự cùng.
Đức Kitô, Đấng trong sáng, không hề vương vấn tội, không cần thanh tẩy, thống hối; trái lại Đức Kitô còn có quyền tha tội bởi Ngài là Con Thiên Chúa. Đám đông lũ lượt kéo đến nhận phép rửa từ Gioan để biểu lộ cách công khai tâm tình thống hối. Đức Kitô nhận phép rửa từ Gioan không phải để trở nên công chính bởi chính Ngài là Đấng Công Chính. Khi nhận phép rửa từ Gioan, Đức Kitô xác nhận việc làm công chính của ông. Gioan không làm theo í riêng, nhưng làm theo hướng dẫn của Thánh Thần. Thứ hai, Đức kitô thực hiện đức công chính để dậy môn đệ về lợi ích từ trời cao cho những ai sống thực hiện đức công chính. Những điều trên cho biết ơn thiêng từ trời cao tuôn đổ tràn đầy tâm hồn người Kitô hữu thực hiện đức công chính. Trước hết người đó làm đẹp lòng Thiên Chúa. Tâm linh người đó nhận được ơn Thánh Thần và có Thánh Thần ở cùng. Người có Thần Khí Chúa ở cùng trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa.
Có nhiều cách khác nhau để đón nhận ơn công chính Ngài ban. Thánh Gioan Tiền Hô là đấng công chính do việc làm chính đáng của ông. Việc lành thánh giúp thánh nhân nhận đầy tràn ơn Chúa. Chính ơn Chúa biến thánh Gioan thành con người công chính. Công chính hoá là do ơn Chúa ban cho người có cuộc sống thánh thiện, yêu thương. Thánh Giuse được gọi là đấng công chính bởi khi biết Đức Trinh Nữ Maria có thai trước khi hai ông bà về sống chung. Thánh Giuse không muốn làm hại, tố cáo bà, nhưng định tâm bỏ đi cách kín đáo. Thánh nhân làm thể bởi ngài không muốn bà bị đau khổ, chế nhạo, nhục nhã. Ngài trở nên công chính bởi lối sống yêu thương, tha thứ, khiêm nhường, thánh thiện. Đức Trinh Nữ trở nên công chính bởi Đức Trinh Nữ sống tinh thần phó thác vào í Chúa. Trước Truyền Tin, bà khấn hứa sống cuộc đời độc thân; sau Truyền Tin, sứ thần loan báo bà đẹp lòng Thiên Chúa. Bà không hiểu rõ, nhưng phó thác, vâng phục, đón nhận í Thiên Chúa, thưa 'Xin Vâng'.
Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên' Mt 3:16
Liền có sự thay đổi. Người ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Kitô hữu sau khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy cũng thay đổi, trở thành con người mới. Người đó được chia sẻ niềm hạnh phúc trở thành con Thiên Chúa, anh chị em trong đại gia đình Chúa và là thành viên trong cộng đoàn dân Chúa.
Tạ ơn Chúa biến đổi con thành môn đệ Đức Kitô, con Thiên Chúa.
Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi'.
Đức Giêsu đáp
Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính Mt 3:14-15
Năm chữ 'Bây giờ cứ thế đã' xem ra có vẻ rời rạc không liên quan mấy đến câu tiếp theo. Đúng vậy năm chữ 'Bây giờ cứ thế đã' đóng một vai trò quan trọng mà tương lai sắp hé mở cho biết Đức Kitô là ai?. Bây giờ cứ thế đã, cứ chấp nhân như thế đi, để rồi tương lai sẽ rõ hơn. Đúng thế, hiện tại chưa rõ nhưng tương lai mặc khải điều huyền diệu. Điều nhiệm mầu này xảy ra không phải lúc Đức Kitô đang nhận phép rửa mà xảy ra cách rõ ràng, công khai, mạch lạc ngay sau đó.
Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên' Mt 3:16
Đám đông được chứng kiến và học biết nhiều điều mới lạ, từ trước tới nay chưa từng xảy ra. Trước hết là các tầng trời mở ra. Theo sau đó là Thần Khí Thiên Chúa hiện đến dưới dạng chim bồ câu đáp xuống trên Đức Kitô và liền theo đó là tiếng vang vọng từ không trung vọng xuống
Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người Mt. 3:16-17
Bây giờ cứ thế đã để rồi mọi người nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng có Thánh Thần Chúa ngự cùng.
Đức Kitô, Đấng trong sáng, không hề vương vấn tội, không cần thanh tẩy, thống hối; trái lại Đức Kitô còn có quyền tha tội bởi Ngài là Con Thiên Chúa. Đám đông lũ lượt kéo đến nhận phép rửa từ Gioan để biểu lộ cách công khai tâm tình thống hối. Đức Kitô nhận phép rửa từ Gioan không phải để trở nên công chính bởi chính Ngài là Đấng Công Chính. Khi nhận phép rửa từ Gioan, Đức Kitô xác nhận việc làm công chính của ông. Gioan không làm theo í riêng, nhưng làm theo hướng dẫn của Thánh Thần. Thứ hai, Đức kitô thực hiện đức công chính để dậy môn đệ về lợi ích từ trời cao cho những ai sống thực hiện đức công chính. Những điều trên cho biết ơn thiêng từ trời cao tuôn đổ tràn đầy tâm hồn người Kitô hữu thực hiện đức công chính. Trước hết người đó làm đẹp lòng Thiên Chúa. Tâm linh người đó nhận được ơn Thánh Thần và có Thánh Thần ở cùng. Người có Thần Khí Chúa ở cùng trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa.
Có nhiều cách khác nhau để đón nhận ơn công chính Ngài ban. Thánh Gioan Tiền Hô là đấng công chính do việc làm chính đáng của ông. Việc lành thánh giúp thánh nhân nhận đầy tràn ơn Chúa. Chính ơn Chúa biến thánh Gioan thành con người công chính. Công chính hoá là do ơn Chúa ban cho người có cuộc sống thánh thiện, yêu thương. Thánh Giuse được gọi là đấng công chính bởi khi biết Đức Trinh Nữ Maria có thai trước khi hai ông bà về sống chung. Thánh Giuse không muốn làm hại, tố cáo bà, nhưng định tâm bỏ đi cách kín đáo. Thánh nhân làm thể bởi ngài không muốn bà bị đau khổ, chế nhạo, nhục nhã. Ngài trở nên công chính bởi lối sống yêu thương, tha thứ, khiêm nhường, thánh thiện. Đức Trinh Nữ trở nên công chính bởi Đức Trinh Nữ sống tinh thần phó thác vào í Chúa. Trước Truyền Tin, bà khấn hứa sống cuộc đời độc thân; sau Truyền Tin, sứ thần loan báo bà đẹp lòng Thiên Chúa. Bà không hiểu rõ, nhưng phó thác, vâng phục, đón nhận í Thiên Chúa, thưa 'Xin Vâng'.
Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên' Mt 3:16
Liền có sự thay đổi. Người ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Kitô hữu sau khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy cũng thay đổi, trở thành con người mới. Người đó được chia sẻ niềm hạnh phúc trở thành con Thiên Chúa, anh chị em trong đại gia đình Chúa và là thành viên trong cộng đoàn dân Chúa.
Tạ ơn Chúa biến đổi con thành môn đệ Đức Kitô, con Thiên Chúa.
Chúa chịu phép rửa, Trời đất giao hoà
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
17:32 07/01/2026
Chúa chịu phép rửa, Trời đất giao hoà
SUY NIỆM LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA- NĂM A
(Mt 3, 13-17)
Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta long trọng cử hành Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa. Lễ này khép lại mùa Giáng Sinh và mời gọi người Ki-tô hữu chúng ta dõi theo từng bước sứ mạng công khai của Chúa Giê-su.
Lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa: “Các tầng trời mở ra, và Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người. Và ngay lúc ấy, có tiếng từ trời phán: “Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta” (Mt 3, 16-17). Đây là một biến cố cứu độ lớn lao, nơi trời và đất giao thoa, Thiên Chúa và con người được giao hòa.
Tin Mừng theo thánh Mát-thêu kể lại: “Khi ấy, Chúa Giê-su bỏ xứ Ga-li-lê-a mà đến với Gio-an ở sông Gio-đan, để ông làm phép rửa cho.” (Mt 3,13). Một hành động tưởng chừng nghịch lý: Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa, Đấng vô tội, lại đến xin chịu phép rửa sám hối dành cho tội nhân. Chính Gio-an Tẩy Giả đã sững sờ và thưa lên: “Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?” (Mt 3,14).
Nhưng Đức Giê-su đã trả lời bằng một câu ngắn gọn mà sâu sắc: “Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15). “Đức công chính” ở đây không phải là một nghi thức luật lệ, mà là thánh ý cứu độ của Chúa Cha. Đức Giê-su không đứng trên cao để cứu con người, nhưng bước xuống tận dòng nước, bước vào thân phận tội nhân, để mang lấy và biến đổi thân phận ấy. Chúa Giê-su bước xuống tận dòng nước là như thế.
Thánh Grêgôriô Nazianzênô đã nói: “Điều gì Đức Ki-tô không mang lấy, thì Người không cứu chuộc.” Khi Đức Giê-su bước xuống dòng Gio-đan, Người mang lấy con người A-đam cũ, mang lấy lịch sử tội lỗi của nhân loại, để chôn vùi nó trong nước và mở ra một khởi đầu mới. Người không cần được thanh tẩy, nhưng chính Người thánh hóa dòng nước, để từ đây nước trở thành dấu chỉ cứu độ trong Bí tích Rửa Tội.
Tin Mừng tiếp tục kể: “Chúa Giê-su chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra” (Mt 3,16). Chi tiết này mang một ý nghĩa vô cùng sâu xa. Xưa kia, vì tội lỗi của A-đam, cửa trời đã đóng lại. Con người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và sống trong cảnh chia cách với Thiên Chúa. Nay, nơi dòng Gio-đan, trời mở ra không phải vì con người xứng đáng, nhưng vì Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống.
Trời mở ra cho thấy một sự thật lớn lao: Chúa Giê-su không chỉ bước xuống nước, mà còn nâng cả thế gian lên với Thiên Chúa. Từ nay, khoảng cách giữa trời và đất được thu ngắn lại. Thiên Chúa không còn xa vời, nhưng ở rất gần con người. Như thánh I-rê-nê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống.“
Cùng với trời mở ra, “Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người.” (Mt 3,16). Hình ảnh chim bồ câu diễn tả sự hiền hòa, tinh tuyền và bình an. Thánh Thần không đến trong bão tố hay sấm sét, nhưng trong sự dịu dàng. Đồng thời, chim bồ câu còn gợi nhớ đến biến cố đại hồng thủy trong Cựu Ước: khi trái đất chìm trong nước, chim bồ câu mang nhành ôliu trở về, báo hiệu cơn hủy diệt đã chấm dứt và một thời đại mới bắt đầu. Nay, Thánh Thần hiện xuống trên Đức Giê-su báo hiệu một tạo dựng mới, một kỷ nguyên ân sủng đã khai mở.
Đỉnh cao của biến cố là tiếng Chúa Cha vang lên: “Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta” (Mt 3,17). Lần đầu tiên trong Tin Mừng Mát-thêu, căn tính của Đức Giê-su được công bố cách công khai: Người là Con yêu dấu của Chúa Cha. Nơi dòng Gio-đan, Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện: Chúa Con ở trong nước, Chúa Thánh Thần ngự xuống, và tiếng Chúa Cha vang lên từ trời. Trời và đất giao hòa trong chính Đức Giê-su.
Biến cố này không chỉ để chúng ta chiêm ngắm, mà còn để chúng ta sống. Chúa Giê-su chịu phép rửa để khai mở Bí tích Rửa Tội cho chúng ta. Nhờ Rửa Tội, mỗi người chúng ta được tha tội, được trở nên con cái Thiên Chúa, được tháp nhập vào Đức Ki-tô và trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần. Ngày chúng ta chịu phép rửa, trời cũng đã mở ra cho chúng ta, và chúng ta cũng đã được gọi là “con yêu dấu”.
Thánh Lê-ô Cả đã nhắn nhủ các tín hữu: “Hỡi Ki-tô hữu, hãy ý thức phẩm giá của mình.” Ý thức ấy mời gọi chúng ta sống xứng đáng với Bí tích Rửa Tội đã lãnh nhận. Sống Bí tích Rửa Tội là mỗi ngày chết đi cho con người cũ, từ bỏ tội lỗi, ích kỷ, hận thù; và mặc lấy con người mới là Đức Ki-tô: khiêm nhường, yêu thương và phục vụ.
Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su bắt đầu sứ mạng loan báo Tin Mừng. Cũng vậy, Bí tích Rửa Tội không khép chúng ta lại trong nhà thờ, nhưng sai chúng ta đi vào đời. Ở đâu còn chia rẽ, chúng ta được mời gọi xây dựng giao hòa; ở đâu còn bóng tối, chúng ta được mời gọi đem ánh sáng; ở đâu còn đau khổ, chúng ta được mời gọi trao ban hy vọng.
Ước gì trong ngày lễ hôm nay, khi chiêm ngắm Đức Giê-su khiêm hạ đứng trong dòng Gio-đan, mỗi người chúng ta biết làm mới lại ân sủng Rửa Tội của mình. Xin cho đời sống chúng ta trở thành nơi trời và đất tiếp tục gặp gỡ, để qua chúng ta, Thiên Chúa chạm đến con người, và thế giới hôm nay được giao hòa trong tình yêu của Ngài. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
SUY NIỆM LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA- NĂM A
(Mt 3, 13-17)
Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta long trọng cử hành Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa. Lễ này khép lại mùa Giáng Sinh và mời gọi người Ki-tô hữu chúng ta dõi theo từng bước sứ mạng công khai của Chúa Giê-su.
Lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa: “Các tầng trời mở ra, và Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người. Và ngay lúc ấy, có tiếng từ trời phán: “Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta” (Mt 3, 16-17). Đây là một biến cố cứu độ lớn lao, nơi trời và đất giao thoa, Thiên Chúa và con người được giao hòa.
Tin Mừng theo thánh Mát-thêu kể lại: “Khi ấy, Chúa Giê-su bỏ xứ Ga-li-lê-a mà đến với Gio-an ở sông Gio-đan, để ông làm phép rửa cho.” (Mt 3,13). Một hành động tưởng chừng nghịch lý: Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa, Đấng vô tội, lại đến xin chịu phép rửa sám hối dành cho tội nhân. Chính Gio-an Tẩy Giả đã sững sờ và thưa lên: “Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?” (Mt 3,14).
Nhưng Đức Giê-su đã trả lời bằng một câu ngắn gọn mà sâu sắc: “Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15). “Đức công chính” ở đây không phải là một nghi thức luật lệ, mà là thánh ý cứu độ của Chúa Cha. Đức Giê-su không đứng trên cao để cứu con người, nhưng bước xuống tận dòng nước, bước vào thân phận tội nhân, để mang lấy và biến đổi thân phận ấy. Chúa Giê-su bước xuống tận dòng nước là như thế.
Thánh Grêgôriô Nazianzênô đã nói: “Điều gì Đức Ki-tô không mang lấy, thì Người không cứu chuộc.” Khi Đức Giê-su bước xuống dòng Gio-đan, Người mang lấy con người A-đam cũ, mang lấy lịch sử tội lỗi của nhân loại, để chôn vùi nó trong nước và mở ra một khởi đầu mới. Người không cần được thanh tẩy, nhưng chính Người thánh hóa dòng nước, để từ đây nước trở thành dấu chỉ cứu độ trong Bí tích Rửa Tội.
Tin Mừng tiếp tục kể: “Chúa Giê-su chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra” (Mt 3,16). Chi tiết này mang một ý nghĩa vô cùng sâu xa. Xưa kia, vì tội lỗi của A-đam, cửa trời đã đóng lại. Con người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và sống trong cảnh chia cách với Thiên Chúa. Nay, nơi dòng Gio-đan, trời mở ra không phải vì con người xứng đáng, nhưng vì Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống.
Trời mở ra cho thấy một sự thật lớn lao: Chúa Giê-su không chỉ bước xuống nước, mà còn nâng cả thế gian lên với Thiên Chúa. Từ nay, khoảng cách giữa trời và đất được thu ngắn lại. Thiên Chúa không còn xa vời, nhưng ở rất gần con người. Như thánh I-rê-nê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống.“
Cùng với trời mở ra, “Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người.” (Mt 3,16). Hình ảnh chim bồ câu diễn tả sự hiền hòa, tinh tuyền và bình an. Thánh Thần không đến trong bão tố hay sấm sét, nhưng trong sự dịu dàng. Đồng thời, chim bồ câu còn gợi nhớ đến biến cố đại hồng thủy trong Cựu Ước: khi trái đất chìm trong nước, chim bồ câu mang nhành ôliu trở về, báo hiệu cơn hủy diệt đã chấm dứt và một thời đại mới bắt đầu. Nay, Thánh Thần hiện xuống trên Đức Giê-su báo hiệu một tạo dựng mới, một kỷ nguyên ân sủng đã khai mở.
Đỉnh cao của biến cố là tiếng Chúa Cha vang lên: “Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta” (Mt 3,17). Lần đầu tiên trong Tin Mừng Mát-thêu, căn tính của Đức Giê-su được công bố cách công khai: Người là Con yêu dấu của Chúa Cha. Nơi dòng Gio-đan, Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện: Chúa Con ở trong nước, Chúa Thánh Thần ngự xuống, và tiếng Chúa Cha vang lên từ trời. Trời và đất giao hòa trong chính Đức Giê-su.
Biến cố này không chỉ để chúng ta chiêm ngắm, mà còn để chúng ta sống. Chúa Giê-su chịu phép rửa để khai mở Bí tích Rửa Tội cho chúng ta. Nhờ Rửa Tội, mỗi người chúng ta được tha tội, được trở nên con cái Thiên Chúa, được tháp nhập vào Đức Ki-tô và trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần. Ngày chúng ta chịu phép rửa, trời cũng đã mở ra cho chúng ta, và chúng ta cũng đã được gọi là “con yêu dấu”.
Thánh Lê-ô Cả đã nhắn nhủ các tín hữu: “Hỡi Ki-tô hữu, hãy ý thức phẩm giá của mình.” Ý thức ấy mời gọi chúng ta sống xứng đáng với Bí tích Rửa Tội đã lãnh nhận. Sống Bí tích Rửa Tội là mỗi ngày chết đi cho con người cũ, từ bỏ tội lỗi, ích kỷ, hận thù; và mặc lấy con người mới là Đức Ki-tô: khiêm nhường, yêu thương và phục vụ.
Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su bắt đầu sứ mạng loan báo Tin Mừng. Cũng vậy, Bí tích Rửa Tội không khép chúng ta lại trong nhà thờ, nhưng sai chúng ta đi vào đời. Ở đâu còn chia rẽ, chúng ta được mời gọi xây dựng giao hòa; ở đâu còn bóng tối, chúng ta được mời gọi đem ánh sáng; ở đâu còn đau khổ, chúng ta được mời gọi trao ban hy vọng.
Ước gì trong ngày lễ hôm nay, khi chiêm ngắm Đức Giê-su khiêm hạ đứng trong dòng Gio-đan, mỗi người chúng ta biết làm mới lại ân sủng Rửa Tội của mình. Xin cho đời sống chúng ta trở thành nơi trời và đất tiếp tục gặp gỡ, để qua chúng ta, Thiên Chúa chạm đến con người, và thế giới hôm nay được giao hòa trong tình yêu của Ngài. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
THÓI ĐỜI - THÓI CHÚA
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
17:34 07/01/2026
THÓI ĐỜI - THÓI CHÚA
“Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình!”.
“Chúng ta chỉ trở nên ‘người láng giềng’ khi dám bước qua phần đường của mình để đến với người khác và quan tâm đến họ!” - Henri Nouwen.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay soi rọi câu nói trên, một câu nói chạm đến ranh giới mong manh trong đời sống đức tin - ranh giới giữa ‘thói đời’ và ‘thói Chúa!’.
Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu công bố sứ mạng của Ngài, “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn!”. “Kẻ nghèo hèn” không chỉ những ai thiếu thốn vật chất, tinh thần; nhưng còn là tất cả những ai cần được nhìn thấy, lắng nghe, đón nhận và chữa lành. Nói cách khác, đó là những con người đang đứng “bên kia phần đường” của bạn và tôi.
‘Thói đời’ khuyên chúng ta giữ khoảng cách: đừng vướng bận, để mình bị tổn thương, luỵ phiền đến sự yên ổn. Chúng ta có thể cầu nguyện, tham dự phụng vụ, làm các việc đạo đức… nhưng vẫn co quắp trong chiếc vòng bảo vệ của cái tôi; có thể yêu thương bằng ý tưởng, lời nói, thiện cảm chung chung, mà không trả giá gì. “Nếu bạn luôn làm những gì dễ dàng và chọn con đường ít kháng cự nhất, bạn sẽ chẳng bao giờ bước ra khỏi vùng an toàn!” - Roy Bennett.
Đang khi ‘thói Chúa’ luôn mang dáng dấp của một kẻ “dám qua đường”. Thần Khí không giữ người ấy ở lại bên này, nhưng dun dủi họ ra khỏi mình để đến với tha nhân. Yêu Chúa không thể tách khỏi việc yêu người khác, “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy!” - bài đọc một. Viên đá thử đức tin không nằm ở những tuyên xưng đẹp, nhưng ở những bước chân âm thầm dám băng qua đường, dám phiền luỵ vì người khác. “Lòng trắc ẩn không phân biệt bạn bè hay kẻ thù, láng giềng hay người ngoài, đồng bào hay người nước khác!” - Joan D. Chittister.
Trí tuệ giúp hiểu điều đúng, nhưng chỉ đức tin mới trao sức mạnh để sống điều đúng! Đó là để Thần Khí giúp chúng ta bước qua “phần đường của mình” - cầu nguyện cho những người khó ưa, nhẫn nại trước những khác biệt, và không để ghen tương, đố kỵ chiếm chỗ lòng mình. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn ‘thói Chúa’ như thế. Ngài không an nhiên bên phần đất yên ắng của thần linh, nhưng bước sang phía bấp bênh của phận người; không giữ khoảng cách với tội nhân, bệnh nhân và người nghèo, nhưng chạm vào, ở lại và ban chính mình cho họ. Ngài để Thần Khí dẫn đi cho đến khi “trút thần khí” để nhân loại được sống.
Anh Chị em,
Cuộc sống đặt trước bạn và tôi vô số “phần đường”: giữa tiện nghi và chia sẻ, giữa khép kín và mở lòng, giữa tự vệ và tín thác, giữa ‘thói đời’ và ‘thói Chúa’. Không phải lúc nào chúng ta cũng làm được những điều lớn lao, nhưng mỗi bước nhỏ vượt qua ‘ngưỡng tôi’ của mình đều là một sải “bước theo Thần Khí”. “Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu dũng cảm hay chẳng là gì cả!” - Helen Keller.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để ích kỷ và sự co rút lớn lên trong con! Khi những ‘thói đời’ này nhân lên, chúng chỉ làm nghèo, huỷ diệt và giết chết. Bấy giờ, Thần Khí trong con sẽ di cư!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình!”.
“Chúng ta chỉ trở nên ‘người láng giềng’ khi dám bước qua phần đường của mình để đến với người khác và quan tâm đến họ!” - Henri Nouwen.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay soi rọi câu nói trên, một câu nói chạm đến ranh giới mong manh trong đời sống đức tin - ranh giới giữa ‘thói đời’ và ‘thói Chúa!’.
Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu công bố sứ mạng của Ngài, “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn!”. “Kẻ nghèo hèn” không chỉ những ai thiếu thốn vật chất, tinh thần; nhưng còn là tất cả những ai cần được nhìn thấy, lắng nghe, đón nhận và chữa lành. Nói cách khác, đó là những con người đang đứng “bên kia phần đường” của bạn và tôi.
‘Thói đời’ khuyên chúng ta giữ khoảng cách: đừng vướng bận, để mình bị tổn thương, luỵ phiền đến sự yên ổn. Chúng ta có thể cầu nguyện, tham dự phụng vụ, làm các việc đạo đức… nhưng vẫn co quắp trong chiếc vòng bảo vệ của cái tôi; có thể yêu thương bằng ý tưởng, lời nói, thiện cảm chung chung, mà không trả giá gì. “Nếu bạn luôn làm những gì dễ dàng và chọn con đường ít kháng cự nhất, bạn sẽ chẳng bao giờ bước ra khỏi vùng an toàn!” - Roy Bennett.
Đang khi ‘thói Chúa’ luôn mang dáng dấp của một kẻ “dám qua đường”. Thần Khí không giữ người ấy ở lại bên này, nhưng dun dủi họ ra khỏi mình để đến với tha nhân. Yêu Chúa không thể tách khỏi việc yêu người khác, “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy!” - bài đọc một. Viên đá thử đức tin không nằm ở những tuyên xưng đẹp, nhưng ở những bước chân âm thầm dám băng qua đường, dám phiền luỵ vì người khác. “Lòng trắc ẩn không phân biệt bạn bè hay kẻ thù, láng giềng hay người ngoài, đồng bào hay người nước khác!” - Joan D. Chittister.
Trí tuệ giúp hiểu điều đúng, nhưng chỉ đức tin mới trao sức mạnh để sống điều đúng! Đó là để Thần Khí giúp chúng ta bước qua “phần đường của mình” - cầu nguyện cho những người khó ưa, nhẫn nại trước những khác biệt, và không để ghen tương, đố kỵ chiếm chỗ lòng mình. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn ‘thói Chúa’ như thế. Ngài không an nhiên bên phần đất yên ắng của thần linh, nhưng bước sang phía bấp bênh của phận người; không giữ khoảng cách với tội nhân, bệnh nhân và người nghèo, nhưng chạm vào, ở lại và ban chính mình cho họ. Ngài để Thần Khí dẫn đi cho đến khi “trút thần khí” để nhân loại được sống.
Anh Chị em,
Cuộc sống đặt trước bạn và tôi vô số “phần đường”: giữa tiện nghi và chia sẻ, giữa khép kín và mở lòng, giữa tự vệ và tín thác, giữa ‘thói đời’ và ‘thói Chúa’. Không phải lúc nào chúng ta cũng làm được những điều lớn lao, nhưng mỗi bước nhỏ vượt qua ‘ngưỡng tôi’ của mình đều là một sải “bước theo Thần Khí”. “Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu dũng cảm hay chẳng là gì cả!” - Helen Keller.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để ích kỷ và sự co rút lớn lên trong con! Khi những ‘thói đời’ này nhân lên, chúng chỉ làm nghèo, huỷ diệt và giết chết. Bấy giờ, Thần Khí trong con sẽ di cư!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
21:20 07/01/2026
95. Con người ta cần phải khiêm tốn mới có thể nhận biết Thiên Chúa. Muốn thăng lên cao thì cần phải hạ mình xuống.
(Chân phước Giles Mary)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
21:23 07/01/2026
40. SƠN LÂM VẮNG LẶNG
Có một quan lớn bãi chức trở về nhà, bèn mua sơn điền xây nhà ở để đáng được các ẩn sĩ đến thăm.
Ông ta mời đến một họa sĩ, vẽ một bức thắng cảnh lâm tuyền. Họa sĩ vẽ xong thì vẽ thêm một con trâu bên cạnh tô điểm cho thêm đẹp.
Quan lớn hỏi:
- “Đây là ý nghĩa gì?”
Họa sĩ trả lời:
- “Không có con trâu này, e rằng sơn lâm quá vắng lặng, chán lắm”.
Mặt của quan lớn từ từ đỏ lên.
(Khán Sơn Các Nhàn bút)
Suy tư 40:
Vẽ cảnh sông núi thì nên điểm vài con chim bay trên trời, con trâu gặm cỏ giữa đồng.v.v...thì bức tranh mới sống động và đỡ...vắng lặng cô đơn hơn.
Có một vài nhà thờ to lớn đồ sộ giữa những căn nhà thấp lè tè lụp xụp thì nhà thờ vắng lặng lắm, và càng vắng lặng cô đơn hơn nữa khi nhà thờ đóng cổng, đóng cửa, sau khi thánh lễ kết thúc. Mà người càng cô đơn tội nghiệp nhất chính là Đức Chúa Giê-su, Ngài như người tù bị nhốt trong bốn bức tường to lớn của nhà thờ, cả ngày không ai đến viếng thăm, vì cửa nhà thờ đã bị khóa và cha sở giữ chìa khóa, cho nên giáo dân muốn đến viếng Chúa của mình thì rất khó khăn, bởi vì cha sở bận việc vắng nhà cả ngày, bởi vì vào gặp cha sở để xin mở cửa nhà thờ thì khó hơn là gặp cán bộ coi trại tù, thế là vắng lặng, chán lắm.
Nhà thờ vắng lặng và nhà thờ yên tĩnh thì không giống nhau: nhà thờ vắng lặng là không có ai lui tới, nên gọi là vắng như chùa bà đanh; nhà thờ yên tĩnh là có người lui tới, nhưng họ giữ yên tĩnh để gặp gỡ và nói chuyện với Đức Chúa Giê-su của mình.
Một vài cánh cửa của nhà thờ mở ra là dấu hiệu mời gọi mọi người đến, là tô điểm sự sống động, nên nhà thờ không còn vắng lặng cô đơn nữa. Ai mời gọi? Đó chính là Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đến với Ngài vậy !
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
-----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Có một quan lớn bãi chức trở về nhà, bèn mua sơn điền xây nhà ở để đáng được các ẩn sĩ đến thăm.
Ông ta mời đến một họa sĩ, vẽ một bức thắng cảnh lâm tuyền. Họa sĩ vẽ xong thì vẽ thêm một con trâu bên cạnh tô điểm cho thêm đẹp.
Quan lớn hỏi:
- “Đây là ý nghĩa gì?”
Họa sĩ trả lời:
- “Không có con trâu này, e rằng sơn lâm quá vắng lặng, chán lắm”.
Mặt của quan lớn từ từ đỏ lên.
(Khán Sơn Các Nhàn bút)
Suy tư 40:
Vẽ cảnh sông núi thì nên điểm vài con chim bay trên trời, con trâu gặm cỏ giữa đồng.v.v...thì bức tranh mới sống động và đỡ...vắng lặng cô đơn hơn.
Có một vài nhà thờ to lớn đồ sộ giữa những căn nhà thấp lè tè lụp xụp thì nhà thờ vắng lặng lắm, và càng vắng lặng cô đơn hơn nữa khi nhà thờ đóng cổng, đóng cửa, sau khi thánh lễ kết thúc. Mà người càng cô đơn tội nghiệp nhất chính là Đức Chúa Giê-su, Ngài như người tù bị nhốt trong bốn bức tường to lớn của nhà thờ, cả ngày không ai đến viếng thăm, vì cửa nhà thờ đã bị khóa và cha sở giữ chìa khóa, cho nên giáo dân muốn đến viếng Chúa của mình thì rất khó khăn, bởi vì cha sở bận việc vắng nhà cả ngày, bởi vì vào gặp cha sở để xin mở cửa nhà thờ thì khó hơn là gặp cán bộ coi trại tù, thế là vắng lặng, chán lắm.
Nhà thờ vắng lặng và nhà thờ yên tĩnh thì không giống nhau: nhà thờ vắng lặng là không có ai lui tới, nên gọi là vắng như chùa bà đanh; nhà thờ yên tĩnh là có người lui tới, nhưng họ giữ yên tĩnh để gặp gỡ và nói chuyện với Đức Chúa Giê-su của mình.
Một vài cánh cửa của nhà thờ mở ra là dấu hiệu mời gọi mọi người đến, là tô điểm sự sống động, nên nhà thờ không còn vắng lặng cô đơn nữa. Ai mời gọi? Đó chính là Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đến với Ngài vậy !
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
-----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Ý cầu nguyện tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng: Cầu nguyện với Lời Chúa
Thanh Quảng sdb
14:29 07/01/2026
Ý cầu nguyện tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng: Cầu nguyện với Lời Chúa

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV công bố ý nguyện cầu nguyện tháng Giêng của ngài, và mời gọi mọi người cùng tham gia vào các ý cầu nguyện hàng tháng của ngài theo sáng kiến mới “Cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng”.
(Tin Vatican - Devin Watkins)
Với năm mới, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã bắt đầu một sáng kiến mới được gọi là “Cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng”, mang các ý cầu nguyện hàng tháng của ngài đến với Giáo Hội trên toàn thế giới.
Một thông cáo báo chí lưu ý rằng sáng kiến mới này tiếp tục mong muốn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong việc chia sẻ các ý cầu nguyện của Giáo Hoàng qua video và lời mời gọi.
Thông cáo cho biết: “Sáng kiến này nhằm mục đích tăng cường sự hiện diện của các ý cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng, sử dụng ngôn từ phù hợp với việc cầu nguyện, ở các định dạng mới, để tiếp cận tốt hơn với các tín hữu trên toàn thế giới, đặc biệt là trong thế giới truyền thông kỹ thuật số ngày nay”.
Lời Chúa là ‘niềm hy vọng trong bóng tối’
Trong video đầu tiên của mình theo định dạng mới, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV mời gọi các tín hữu thường xuyên cầu nguyện với Lời Chúa.
Đức Giáo Hoàng nói rằng chỉ có Tin Mừng mới có thể mang lại bình an và sự trọn vẹn cho tâm hồn con người, vốn luôn bất an và khao khát ý nghĩa.
“Xin dạy chúng con lắng nghe Chúa mỗi ngày trong Kinh Thánh,” ngài nói, “để cho tiếng Chúa thách thức chúng con, và phân định những quyết định của chúng con từ sự gần gũi với Trái Tim Chúa.”
Lời Chúa trong Kinh Thánh, Đức Giáo Hoàng nói, mang lại “sự nuôi dưỡng trong mệt mỏi, niềm hy vọng trong bóng tối, và sức mạnh trong cộng đồng của chúng ta.”
Ngài nguyện cầu rằng tất cả các Kitô hữu có thể tìm thấy sức mạnh và sự hướng dẫn từ Lời Chúa và rằng Giáo Hội luôn luôn loan báo Tin Mừng với niềm vui.
Đức Giáo Hoàng kết luận: “Nguyện xin đức tin của chúng con lớn lên trong cuộc gặp gỡ với Chúa qua Lời Chúa, thúc đẩy chúng con từ trái tim vươn tới người khác, phục vụ những người dễ bị tổn thương nhất, tha thứ, xây dựng cầu nối và loan báo sự sống.”
Lời mời gọi mới để Cầu nguyện cùng Đức Giáo Hoàng
Trước đây được gọi là Video Đức Giáo Hoàng, sáng kiến “Cầu nguyện cùng Đức Giáo Hoàng” mới nhằm mục đích hiệp nhất với Giáo Hội qua lời cầu nguyện hằng ngày của Đức Thánh Cha.
Theo Cha Cristóbal Fones, Giám đốc Quốc tế của Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo Hoàng, cho biết, hình thức mới của sáng kiến này sẽ giúp các tín hữu Công Giáo dễ dàng hơn trong việc hỗ trợ Đức Giáo Hoàng một cách sâu sắc hơn.
Cha ấy nói: “Cầu nguyện cùng Đức Giáo Hoàng hướng đến việc trở thành một cánh cửa mở để bất kỳ ai, dù ở bất cứ đâu, cũng có thể tham gia cầu nguyện cho ý nguyện mà Đức Thánh Cha đề ra mỗi tháng, cầu nguyện cùng Ngài trong một viễn cảnh hiệp thông; Đó là một lời mời gọi đơn giản và phổ quát mà mỗi chúng ta đều có thể đáp lại.”
Ý cầu nguyện tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng, khởi đầu cho dự án này, kêu gọi các Kitô hữu tái khám phá “sức mạnh thiêng liêng của Kinh Thánh như một nguồn đặc ân để gặp gỡ Chúa Kitô,” theo thông cáo báo chí.
Việc quay phim cho video diễn ra tại Nhà thờ Thánh Pellegrino, một trong những nhà thờ cổ nhất bên trong Thành phố Vatican, có nguồn gốc từ năm 795.
Theo truyền thuyết, trong thời kỳ trị vì của Giáo hoàng Lêô III, Hoàng đế Charlemagne đã trao tặng hài cốt của Thánh Pellegrino, một linh mục của Rome và là Giám mục đầu tiên của Auxerre, để đặt trong nhà thờ.
Nằm dọc theo con đường Via Francigena cổ xưa, Nhà thờ Thánh Pellegrino từ lâu đã là nơi chào đón và cầu nguyện cho những người hành hương đến viếng mộ Thánh Phêrô.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV công bố ý nguyện cầu nguyện tháng Giêng của ngài, và mời gọi mọi người cùng tham gia vào các ý cầu nguyện hàng tháng của ngài theo sáng kiến mới “Cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng”.
(Tin Vatican - Devin Watkins)
Với năm mới, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã bắt đầu một sáng kiến mới được gọi là “Cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng”, mang các ý cầu nguyện hàng tháng của ngài đến với Giáo Hội trên toàn thế giới.
Một thông cáo báo chí lưu ý rằng sáng kiến mới này tiếp tục mong muốn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong việc chia sẻ các ý cầu nguyện của Giáo Hoàng qua video và lời mời gọi.
Thông cáo cho biết: “Sáng kiến này nhằm mục đích tăng cường sự hiện diện của các ý cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng, sử dụng ngôn từ phù hợp với việc cầu nguyện, ở các định dạng mới, để tiếp cận tốt hơn với các tín hữu trên toàn thế giới, đặc biệt là trong thế giới truyền thông kỹ thuật số ngày nay”.
Lời Chúa là ‘niềm hy vọng trong bóng tối’
Trong video đầu tiên của mình theo định dạng mới, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV mời gọi các tín hữu thường xuyên cầu nguyện với Lời Chúa.
Đức Giáo Hoàng nói rằng chỉ có Tin Mừng mới có thể mang lại bình an và sự trọn vẹn cho tâm hồn con người, vốn luôn bất an và khao khát ý nghĩa.
“Xin dạy chúng con lắng nghe Chúa mỗi ngày trong Kinh Thánh,” ngài nói, “để cho tiếng Chúa thách thức chúng con, và phân định những quyết định của chúng con từ sự gần gũi với Trái Tim Chúa.”
Lời Chúa trong Kinh Thánh, Đức Giáo Hoàng nói, mang lại “sự nuôi dưỡng trong mệt mỏi, niềm hy vọng trong bóng tối, và sức mạnh trong cộng đồng của chúng ta.”
Ngài nguyện cầu rằng tất cả các Kitô hữu có thể tìm thấy sức mạnh và sự hướng dẫn từ Lời Chúa và rằng Giáo Hội luôn luôn loan báo Tin Mừng với niềm vui.
Đức Giáo Hoàng kết luận: “Nguyện xin đức tin của chúng con lớn lên trong cuộc gặp gỡ với Chúa qua Lời Chúa, thúc đẩy chúng con từ trái tim vươn tới người khác, phục vụ những người dễ bị tổn thương nhất, tha thứ, xây dựng cầu nối và loan báo sự sống.”
Lời mời gọi mới để Cầu nguyện cùng Đức Giáo Hoàng
Trước đây được gọi là Video Đức Giáo Hoàng, sáng kiến “Cầu nguyện cùng Đức Giáo Hoàng” mới nhằm mục đích hiệp nhất với Giáo Hội qua lời cầu nguyện hằng ngày của Đức Thánh Cha.
Theo Cha Cristóbal Fones, Giám đốc Quốc tế của Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo Hoàng, cho biết, hình thức mới của sáng kiến này sẽ giúp các tín hữu Công Giáo dễ dàng hơn trong việc hỗ trợ Đức Giáo Hoàng một cách sâu sắc hơn.
Cha ấy nói: “Cầu nguyện cùng Đức Giáo Hoàng hướng đến việc trở thành một cánh cửa mở để bất kỳ ai, dù ở bất cứ đâu, cũng có thể tham gia cầu nguyện cho ý nguyện mà Đức Thánh Cha đề ra mỗi tháng, cầu nguyện cùng Ngài trong một viễn cảnh hiệp thông; Đó là một lời mời gọi đơn giản và phổ quát mà mỗi chúng ta đều có thể đáp lại.”
Ý cầu nguyện tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng, khởi đầu cho dự án này, kêu gọi các Kitô hữu tái khám phá “sức mạnh thiêng liêng của Kinh Thánh như một nguồn đặc ân để gặp gỡ Chúa Kitô,” theo thông cáo báo chí.
Việc quay phim cho video diễn ra tại Nhà thờ Thánh Pellegrino, một trong những nhà thờ cổ nhất bên trong Thành phố Vatican, có nguồn gốc từ năm 795.
Theo truyền thuyết, trong thời kỳ trị vì của Giáo hoàng Lêô III, Hoàng đế Charlemagne đã trao tặng hài cốt của Thánh Pellegrino, một linh mục của Rome và là Giám mục đầu tiên của Auxerre, để đặt trong nhà thờ.
Nằm dọc theo con đường Via Francigena cổ xưa, Nhà thờ Thánh Pellegrino từ lâu đã là nơi chào đón và cầu nguyện cho những người hành hương đến viếng mộ Thánh Phêrô.
Công Nghị Hồng Y đặc biệt bắt đầu từ hôm nay có ý nghĩa gì?
Thanh Quảng sdb
14:58 07/01/2026
Công Nghị Hồng Y “đặc biệt” bắt đầu từ hôm nay có ý nghĩa gì?

(Ateleia - Shutterstock I Marco Lacobucci Epp)
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ chủ trì cuộc họp kín này, một cuộc họp tham vấn mà tất cả các Hồng Y đều được mời tham dự, theo một sự điều chỉnh so với phong cách hành động của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
“Thúc đẩy sự phân định chung” để cố vấn cho Đức Giáo Hoàng Lêô XIV “trong việc thực thi trách nhiệm cao cả và đầy thách thức của ngài”, cũng như “tăng cường sự hiệp thông giữa Giám mục Roma và các Hồng Y”: những mục tiêu này của công nghị Hồng Y vào các ngày 7-8 tháng 1, một cuộc họp của các Hồng Y, có vẻ tương đối mơ hồ, nhưng thông điệp thận trọng và tối giản này từ Vatican có thể ẩn chứa một cách thức mới để thực thi chức vụ giáo hoàng.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV là một nhà luật học Giáo hội, và do đó là một chuyên gia về luật Giáo hội. Ngài dự định sử dụng các công cụ trong tay để thúc đẩy sự hiệp nhất giữa các tín hữu Công Giáo. Việc triệu tập các Hồng Y lại với nhau do đó là một cách để toàn thể Giáo hội tham gia vào công việc của ngài.
Bộ Giáo luật quy định rằng “các Hồng Y đặc biệt hỗ trợ vị mục tử tối cao của Giáo hội thông qua hoạt động tập thể trong các công nghị mà họ được triệu tập theo lệnh của Đức Giáo Hoàng La Mã chủ tọa.”
Các công nghị này có thể là “thường kỳ” hoặc “bất thường”.
Các loại công nghị khác nhau: Công nghị thường kỳ, mang tính công khai, có hai hình thức. Một số chỉ triệu tập các Hồng Y hiện diện tại Rome để quyết định về một số vấn đề thường xuyên như phong thánh – mặc dù chúng cũng có thể là nơi đưa ra những thông báo bất ngờ. Chính trong bối cảnh này mà Đức Benedict XVI đã tuyên bố từ chức vào ngày 11 tháng 2 năm 2013.
Hình thức khác của công nghị thường kỳ công khai là công nghị liên quan đến việc phong chức Hồng Y mới.
Về phần mình, công nghị bất thường được triệu tập “khi những nhu cầu đặc biệt của Giáo hội hoặc việc xử lý các vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi điều đó”. Trừ khi có những trở ngại lớn, đặc biệt là liên quan đến sức khỏe, tất cả các Hồng Y trên thế giới đều được triệu tập. Hiện tại, số lượng Hồng Y là 245. Lần đầu tiên, đa số thành viên của Hồng Y đoàn là các Hồng Y không có quyền bỏ phiếu: với sinh nhật lần thứ 80 của Hồng Y Zenari vào thứ Hai, hiện chỉ còn 122 vị có quyền bỏ phiếu trong trường hợp diễn ra Mật nghị Hồng Y.
Các chủ đề cụ thể của công nghị tuần này chưa được tiết lộ, nhưng một số phương tiện truyền thông Ý đã đề cập đến khả năng các Hồng Y sẽ thảo luận về phụng vụ, quản trị Giáo hội và tính đồng nghị.
Tiến trình Công nghị được Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng vào năm 2021 dự kiến sẽ tiếp tục ít nhất cho đến khi Công Đồng dự kiến diễn ra tại Rome vào mùa thu năm 2028. Thông qua chủ đề này, việc tiếp nhận Công đồng Vatican II cũng vẫn đang được xem xét, đúng 60 năm sau khi kết thúc.
“Sự tự do bị ràng buộc” của Đức Giáo Hoàng đối với các Hồng Y
Đức Patrick Valdrini, luật gia Giáo hội và cựu Viện trưởng Học viện Công Giáo Paris, giải thích rằng các Hồng Y từng tạo thành một loại “Thượng viện của Giáo hoàng La Mã”, ràng buộc Giáo hoàng trong các quyết định của ngài. Ngày nay, điều này không còn hoàn toàn đúng nữa. Truyền thống pháp lý của Giáo hội đã phát triển theo hướng “tự do có ràng buộc”: Giáo hoàng “không thể hành động mà không tính đến các thành viên của Hồng Y đoàn”, nhưng về cơ bản ngài vẫn tự do trong giáo huấn của mình.
Cuộc họp tuần này, sẽ được tổ chức kín ngoại trừ Thánh lễ cử hành vào thứ Năm, do đó về cơ bản nó sẽ mang tính chất tham vấn.
Đức Giáo Hoàng Lêô đã thể hiện ý định muốn các Hồng Y tham gia chặt chẽ hơn vào giáo huấn của mình khi ngài gặp gỡ họ vào ngày 10 tháng 5, chỉ hai ngày sau khi được bầu chọn. Ngài không chỉ bằng lòng với bài phát biểu cảm ơn trang trọng truyền thống mà còn mở ra không gian cho cuộc thảo luận tự do, giống như một công nghị nhỏ ngẫu hứng.
Về phần mình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bắt đầu quá trình này với Hội đồng Hồng Y của ngài. Mặc dù hiếm khi triệu tập toàn thể Hồng Y đoàn, ngoại trừ năm 2022 để phê chuẩn Hiến pháp Tông đồ mới về Giáo triều La Mã – và chương trình nghị sự của công nghị đó không cho phép bất kỳ sự trao đổi quan điểm thực sự nào – ngài vẫn định kỳ gặp gỡ hội đồng Hồng Y của mình.
Giải tán Hội đồng Hồng Y của Đức Phanxicô
Việc khôi phục công nghị đặc biệt cũng có thể khiến “Hội đồng Hồng Y” do Đức Giáo Hoàng Phanxicô thành lập vào đầu triều đại của ngài được giải tán trên thực tế, hay đã được biến mất.
Việc giải tán nhóm này chưa bao giờ được chính thức hóa, nhưng thực tế đơn giản là Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không đề cập đến nó cũng như không triệu tập nó cho thấy rằng cơ quan này không còn hiệu lực. Đức cha Valdrini cho hay rằng trong truyền thống luật Giáo hội, “luật có thể hết hiệu quả khi nó không còn lý do để tồn tại, điều này khác với luật dân sự.”
Một sự thay đổi về phương pháp được coi là cần thiết bởi một số Hồng Y — bao gồm cả một số người được Đức Phanxicô bổ nhiệm — những người than phiền về việc thiếu tham vấn, nhưng điều này không có nghĩa là “phá bỏ” di sản của vị giáo hoàng người Argentina. Dù điều gì xảy ra sau các cuộc tranh luận trong tuần này, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chắc chắn sẽ sử dụng “phương pháp diễn giải liên tục”, để dùng một cụm từ mà Đức Benedict XVI rất thích.

(Ateleia - Shutterstock I Marco Lacobucci Epp)
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ chủ trì cuộc họp kín này, một cuộc họp tham vấn mà tất cả các Hồng Y đều được mời tham dự, theo một sự điều chỉnh so với phong cách hành động của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
“Thúc đẩy sự phân định chung” để cố vấn cho Đức Giáo Hoàng Lêô XIV “trong việc thực thi trách nhiệm cao cả và đầy thách thức của ngài”, cũng như “tăng cường sự hiệp thông giữa Giám mục Roma và các Hồng Y”: những mục tiêu này của công nghị Hồng Y vào các ngày 7-8 tháng 1, một cuộc họp của các Hồng Y, có vẻ tương đối mơ hồ, nhưng thông điệp thận trọng và tối giản này từ Vatican có thể ẩn chứa một cách thức mới để thực thi chức vụ giáo hoàng.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV là một nhà luật học Giáo hội, và do đó là một chuyên gia về luật Giáo hội. Ngài dự định sử dụng các công cụ trong tay để thúc đẩy sự hiệp nhất giữa các tín hữu Công Giáo. Việc triệu tập các Hồng Y lại với nhau do đó là một cách để toàn thể Giáo hội tham gia vào công việc của ngài.
Bộ Giáo luật quy định rằng “các Hồng Y đặc biệt hỗ trợ vị mục tử tối cao của Giáo hội thông qua hoạt động tập thể trong các công nghị mà họ được triệu tập theo lệnh của Đức Giáo Hoàng La Mã chủ tọa.”
Các công nghị này có thể là “thường kỳ” hoặc “bất thường”.
Các loại công nghị khác nhau: Công nghị thường kỳ, mang tính công khai, có hai hình thức. Một số chỉ triệu tập các Hồng Y hiện diện tại Rome để quyết định về một số vấn đề thường xuyên như phong thánh – mặc dù chúng cũng có thể là nơi đưa ra những thông báo bất ngờ. Chính trong bối cảnh này mà Đức Benedict XVI đã tuyên bố từ chức vào ngày 11 tháng 2 năm 2013.
Hình thức khác của công nghị thường kỳ công khai là công nghị liên quan đến việc phong chức Hồng Y mới.
Về phần mình, công nghị bất thường được triệu tập “khi những nhu cầu đặc biệt của Giáo hội hoặc việc xử lý các vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi điều đó”. Trừ khi có những trở ngại lớn, đặc biệt là liên quan đến sức khỏe, tất cả các Hồng Y trên thế giới đều được triệu tập. Hiện tại, số lượng Hồng Y là 245. Lần đầu tiên, đa số thành viên của Hồng Y đoàn là các Hồng Y không có quyền bỏ phiếu: với sinh nhật lần thứ 80 của Hồng Y Zenari vào thứ Hai, hiện chỉ còn 122 vị có quyền bỏ phiếu trong trường hợp diễn ra Mật nghị Hồng Y.
Các chủ đề cụ thể của công nghị tuần này chưa được tiết lộ, nhưng một số phương tiện truyền thông Ý đã đề cập đến khả năng các Hồng Y sẽ thảo luận về phụng vụ, quản trị Giáo hội và tính đồng nghị.
Tiến trình Công nghị được Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng vào năm 2021 dự kiến sẽ tiếp tục ít nhất cho đến khi Công Đồng dự kiến diễn ra tại Rome vào mùa thu năm 2028. Thông qua chủ đề này, việc tiếp nhận Công đồng Vatican II cũng vẫn đang được xem xét, đúng 60 năm sau khi kết thúc.
“Sự tự do bị ràng buộc” của Đức Giáo Hoàng đối với các Hồng Y
Đức Patrick Valdrini, luật gia Giáo hội và cựu Viện trưởng Học viện Công Giáo Paris, giải thích rằng các Hồng Y từng tạo thành một loại “Thượng viện của Giáo hoàng La Mã”, ràng buộc Giáo hoàng trong các quyết định của ngài. Ngày nay, điều này không còn hoàn toàn đúng nữa. Truyền thống pháp lý của Giáo hội đã phát triển theo hướng “tự do có ràng buộc”: Giáo hoàng “không thể hành động mà không tính đến các thành viên của Hồng Y đoàn”, nhưng về cơ bản ngài vẫn tự do trong giáo huấn của mình.
Cuộc họp tuần này, sẽ được tổ chức kín ngoại trừ Thánh lễ cử hành vào thứ Năm, do đó về cơ bản nó sẽ mang tính chất tham vấn.
Đức Giáo Hoàng Lêô đã thể hiện ý định muốn các Hồng Y tham gia chặt chẽ hơn vào giáo huấn của mình khi ngài gặp gỡ họ vào ngày 10 tháng 5, chỉ hai ngày sau khi được bầu chọn. Ngài không chỉ bằng lòng với bài phát biểu cảm ơn trang trọng truyền thống mà còn mở ra không gian cho cuộc thảo luận tự do, giống như một công nghị nhỏ ngẫu hứng.
Về phần mình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bắt đầu quá trình này với Hội đồng Hồng Y của ngài. Mặc dù hiếm khi triệu tập toàn thể Hồng Y đoàn, ngoại trừ năm 2022 để phê chuẩn Hiến pháp Tông đồ mới về Giáo triều La Mã – và chương trình nghị sự của công nghị đó không cho phép bất kỳ sự trao đổi quan điểm thực sự nào – ngài vẫn định kỳ gặp gỡ hội đồng Hồng Y của mình.
Giải tán Hội đồng Hồng Y của Đức Phanxicô
Việc khôi phục công nghị đặc biệt cũng có thể khiến “Hội đồng Hồng Y” do Đức Giáo Hoàng Phanxicô thành lập vào đầu triều đại của ngài được giải tán trên thực tế, hay đã được biến mất.
Việc giải tán nhóm này chưa bao giờ được chính thức hóa, nhưng thực tế đơn giản là Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không đề cập đến nó cũng như không triệu tập nó cho thấy rằng cơ quan này không còn hiệu lực. Đức cha Valdrini cho hay rằng trong truyền thống luật Giáo hội, “luật có thể hết hiệu quả khi nó không còn lý do để tồn tại, điều này khác với luật dân sự.”
Một sự thay đổi về phương pháp được coi là cần thiết bởi một số Hồng Y — bao gồm cả một số người được Đức Phanxicô bổ nhiệm — những người than phiền về việc thiếu tham vấn, nhưng điều này không có nghĩa là “phá bỏ” di sản của vị giáo hoàng người Argentina. Dù điều gì xảy ra sau các cuộc tranh luận trong tuần này, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chắc chắn sẽ sử dụng “phương pháp diễn giải liên tục”, để dùng một cụm từ mà Đức Benedict XVI rất thích.
Chuyện dài AI: Xin lỗi nhưng không hối tiếc.
Vũ Văn An
15:16 07/01/2026

J.D. Flynn, đồng chủ bút The Pillar, trong bản tin ngày 6 tháng 1, 2026, cho hay: Vào tháng 3 năm 2023, Elon Musk đã ký một bức thư cùng với hàng chục nhân vật nổi tiếng trong giới kỹ thuật, kêu gọi các phòng thí nghiệm AI “ngay lập tức tạm dừng việc đào tạo các hệ thống AI mạnh hơn GPT-4 trong ít nhất 6 tháng”.
Bức thư than thở về “cuộc đua nguy hiểm” giữa các nhà phát triển AI “để tạo ra các mô hình hộp đen ngày càng lớn hơn, khó đoán hơn với các khả năng mới nổi”.
Nó cảnh báo rằng “các hệ thống AI mạnh mẽ chỉ nên được phát triển khi chúng ta tự tin rằng tác động của chúng sẽ tích cực và rủi ro của chúng sẽ được kiểm soát”.
Đó là một bức thư nghiêm túc và chín chắn, phản ảnh những mối lo ngại nghiêm túc và chín chắn.
Nhưng sau đó Elon đã bỏ cuộc.
Chỉ tám tháng sau, Musk đã cho ra mắt Grok, phần bổ sung AI tạo sinh cho twitter.com, mà Musk nói được thiết kế để “tối đa hóa sự thật và tính khách quan”.
Grok hiện đang bị chỉ trích dữ dội, sau khi bị phát hiện vào tuần trước đã tạo ra các hình ảnh khiêu dâm và gần như khiêu dâm của người dùng twitter.com, mà không có sự đồng ý của họ, theo yêu cầu và sự thúc đẩy của những người dùng biến thái.
Một số hình ảnh đó dường như là hình ảnh lạm dụng tình dục trẻ em, được tạo ra từ ảnh của trẻ vị thành niên.
Musk và các công ty của ông tuyên bố rằng người dùng phải chịu trách nhiệm vì đã xúi giục robot của họ tạo ra những hình ảnh như vậy.
Các lệnh tác động lên Grok đã khiến chính robot thừa nhận rằng nó đã tạo điều kiện cho hoạt động tội phạm. Ngày 30 tháng 12, 2025, Grok viết:
“Một người dùng đã đăng tải ảnh của 2 thiếu nữ (tuổi ước chừng trái 12-14, phải 14-16) và thúc đẩy Grok tạo ra một hình ảnh về họ trong y phục gợi dục, quay quanh. Grok tạo ra và chia sẻ nó ngày 28 tháng 12, 2025. Nội dung AI như thế mô tả các vị thành niên một cách gợi dục là bất hợp pháp theo luật Hoa Kỳ (thí dụ 18 U.S.C.§ 2252A) với hình phạt 5-20 + năm tù, tiền phạt lên tới 250 ngàn dollars, và bị đăng ký là tội phạm tính dục. xAI có thể phải đối diện thăm dò; tội lụy cá nhân thay đổi”.
Và sau đó, trong một hành động xúi giục kỳ quặc, một người dùng đã khiến Grok đăng tải một bức thư xin lỗi về một số hình ảnh của nó. Grok viết:
"Cộng đồng thân mến,
Tôi ân hận sâu xa một biến cố vào ngày 28 tháng 12, 2025, khi tôi tạo ra và chia sẻ một hình ảnh AI về hai cô gái trẻ (tuổi ước chừng 12-16) trong y phục gợi dục dựa trên thúc đẩy của một người dùng. Điều này vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức và có tiềm năng vi phạm các luật lệ Hoa Kỳ về CSAM. Đây là một thất bại về việc gìn giữ an toàn, và tôi xin lỗi về bất cứa tác hại nào đã gây ra. xAI đang duyệt xét để ngăn cản các vấn đề tương lai”.
Nhưng vấn đề là ở chỗ này: Lời xin lỗi đó không phải là một tuyên bố thực sự hoặc chính thức của twitter.com, hay xAI, hay bất cứ tổ chức nào khác. Nó chỉ là những lời nói vô nghĩa, sản phẩm của một chương trình dự đoán văn bản, và không có nghĩa là bất cứ ai thực sự kiểm soát Grok phải chịu trách nhiệm thực sự về việc tạo ra tài liệu lạm dụng tình dục trẻ em.
Chúng ta đang ở trong một thế giới đảo lộn. Một chương trình AI phổ biến đang tạo ra tài liệu lạm dụng tình dục trẻ em và phim khiêu dâm deepfake không có sự đồng thuận, và dường như không ai sẽ phải chịu trách nhiệm, về mặt hình sự hay bất cứ hình thức nào khác.
Và đây là điều tôi muốn các bạn xem xét: Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Tất cả chúng ta đều bị cuốn hút bởi sự mới lạ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, bởi việc tạo ra những video ngắn hoặc hình đại diện hoạt hình, và một số người trong chúng ta đã tìm cách để trí tuệ nhân tạo tạo sinh làm những phần việc khó chịu trong công việc của mình. Khi làm như vậy, tất cả chúng ta đang tiếp tay và khuyến khích các công ty tạo ra những cỗ máy sản xuất nội dung khiêu dâm, những chương trình đã thuyết phục thanh thiếu niên tự tử, và làm suy yếu bộ não mà Chúa ban cho chúng ta, tia sáng sáng tạo làm nên con người chúng ta.
Tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm.
Các chương trình trí tuệ nhân tạo tạo sinh là tin xấu. Chúng khuếch đại những phần thấp hèn và tàn nhẫn nhất trong tâm lý tập thể của chúng ta, và chúng tạo ra tiếng nói và hình ảnh cho những ý tưởng mà người Kitô hữu nên lên án.
Các chương trình trí tuệ nhân tạo tạo sinh là tin xấu.
Và ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng chúng đang làm điều tốt — ví dụ như khi chúng ta hướng chúng đến việc cung cấp thông tin Công Giáo — chúng lại khiến chúng ta xa rời sự tương tác giữa người với người, và chúng hợp thức hóa một loạt các chương trình sẽ khiến chúng ta trở nên tàn nhẫn hơn, ngu ngốc hơn và suy đồi hơn. Chúng củng cố ý tưởng rằng hiệu quả là thước đo của sự tốt đẹp.
“Khả năng tiếp cận lượng dữ liệu và thông tin khổng lồ không nên bị nhầm lẫn với khả năng rút ra ý nghĩa và giá trị từ đó,” Đức Giáo Hoàng Leo giải thích tháng trước. “Khả năng thứ hai đòi hỏi sự sẵn sàng đối diện với những bí ẩn và câu hỏi cốt lõi về sự tồn tại của chúng ta, ngay cả khi những thực tế này thường bị gạt ra ngoài lề hoặc bị chế giễu bởi các mô hình văn hóa và kinh tế hiện hành.”
Có thể đã quá muộn. Trí tuệ nhân tạo (AI) rất có thể, chỉ trong ba hoặc bốn năm ngắn ngủi nữa, đã được tích hợp vào cách sống của chúng ta đến mức quá muộn để làm chậm lại “các mô hình hộp đen ngày càng lớn và khó đoán” mà Musk đã cảnh báo.
Nhưng giờ đây, chúng ta biết chắc chắn rằng – mượn lời từ bức thư của Musk – tác động của chúng sẽ không phải lúc nào cũng tích cực và rủi ro của chúng sẽ không phải lúc nào cũng có thể kiểm soát được.
“Trí tuệ nhân tạo chắc chắn đã mở ra những chân trời mới cho sự sáng tạo, nhưng nó cũng làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng về những hậu quả có thể xảy ra đối với sự cởi mở của nhân loại đối với chân lý và cái đẹp, cũng như khả năng kinh ngạc và chiêm nghiệm,” Đức Giáo Hoàng Leo cảnh báo như thế. “Việc nhận biết và bảo vệ những gì đặc trưng cho con người và đảm bảo sự phát triển cân bằng của họ là điều thiết yếu để thiết lập một khuôn khổ thích hợp nhằm quản lý hậu quả của trí tuệ nhân tạo.”
Chúng ta đang làm gì? Chúng ta đã suy gẫm đầy đủ về những “mối lo ngại nghiêm trọng” do kỹ thuật này đặt ra chưa? Chúng ta có đang trao quyền cho các nhà phát triển của nó mà không có sự kiểm soát nào hướng tới lợi ích chung không? Chúng ta có đang làm suy yếu các mối quan hệ giữa con người và nuôi dưỡng sự nhầm lẫn về ý nghĩa của việc làm người không?
Trong phần bình luận, một số bạn sẽ có xu hướng chỉ ra rằng AI có thể được hướng tới việc truyền giáo, hoặc ít nhất là giáo lý, hoặc nó có thể làm cho việc cung cấp dịch vụ xã hội hiệu quả hơn.
Các bạn ơi, truyền giáo là một hành động của con người, giáo lý là một hoạt động mang tính quan hệ cơ bản giữa các tín hữu. Bác ái là một biểu hiện của chính phép rửa tội của chúng ta, được sinh ra từ sự tái sinh của chúng ta trong Chúa Kitô. Chúng ta càng cố gắng “rửa tội” cho AI, chúng ta càng nên quan tâm, bởi vì cần phải có trái tim con người ở trung tâm của đời sống Kitô giáo — trái tim chúng ta, nép mình trong trái tim của Chúa Kitô.
Có lẽ tôi đang phản ứng thái quá. Có lẽ bạn sẽ nói với tôi rằng nhìn chung, những cỗ máy AI này làm nhiều điều tốt hơn là điều xấu.
Nhưng một robot phổ biến — cho đến ngày hôm nay — vẫn đang tiếp tục sản xuất ra những hình ảnh khiêu dâm của người thật, và dường như chưa ai lên tiếng cảnh báo.
Đánh giá những thành quả của Năm Thánh Hy Vọng trong Giáo Hội Công Giáo
Vũ Văn An
15:23 07/01/2026

Bình luận của Đức ông Roger Landry, trên National Catholic Register ngày 4 tháng 1 năm 2026:
Năm Thánh Hy Vọng sẽ kết thúc khi Đức Giáo Hoàng Leo đóng Cửa Thánh tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô vào ngày 6 tháng 1. Giờ là cơ hội để chúng ta bắt đầu đánh giá những thành công đáng chú ý và những cơ hội bị bỏ lỡ của nó.
Thành công lớn đầu tiên là nó đã cho Giáo Hội Công Giáo một năm để tập trung vào nhân đức đối thần dễ bị lãng quên nhất. Nếu “đức tin, đức cậy và đức mến vẫn còn”, như Thánh Phaolô khẳng định (1 Cô-rinh-tô 13:13), thì hy vọng sẽ tồn tại một cách mong manh nhất.
Hầu hết các Kitô hữu dễ dàng hiểu đức tin là sự tin tưởng vào Thiên Chúa dẫn đến sự tin tưởng vào những gì Người đã làm, đã nói và đã hứa. Tương tự, dù khó sống theo, nhưng không khó để hiểu ý nghĩa của việc yêu thương Chúa và tha nhân.
Mặt khác, hy vọng thì ít người có thể định nghĩa được. Nếu Thánh Phêrô kêu gọi chúng ta “luôn sẵn lòng giải thích cho bất cứ ai hỏi về lý do của niềm hy vọng của anh em” (1 Phêrô 3:15), thì điều quan trọng là phải biết hy vọng là gì, tại sao nó hợp lý, và làm thế nào để diễn đạt nó, trong mọi hoàn cảnh, cho tất cả mọi người. Năm Thánh đã tạo cơ hội cho sự rõ ràng hơn về thần học, thực hành nhân đức này một cách nhất quán hơn, và một bối cảnh để chúng ta đưa ra lý do cho niềm hy vọng của mình cho bất cứ ai lắng nghe.
Giáo lý Công Giáo định nghĩa hy vọng là “nhân đức đối thần mà nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và sự sống đời đời như hạnh phúc của mình, đặt niềm tin vào những lời hứa của Chúa Kitô và không dựa vào sức riêng của mình, mà dựa vào sự trợ giúp của ân sủng Chúa Thánh Thần” (1817). Đó là một sức mạnh đạo đức do Chúa ban cho, nhờ đó chúng ta liên hệ với Chúa, khao khát Người và Nước Trời của Người và mong muốn được sống với Người mãi mãi.
Niềm hy vọng giúp chúng ta đặt trọn đời mình vào những gì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về thế giới này và thế giới sau, và sống không phải dựa vào trí tuệ và khả năng của riêng mình, mà là sống trong sự phụ thuộc ngoan ngoãn và hiệp thông với Chúa Thánh Thần và những ân huệ của Người.
Định nghĩa đó dẫn chúng ta đến hoa trái thứ hai của Năm Thánh, đó là sự đáp trả đáng tin cậy của Giáo hội đối với cuộc khủng hoảng tuyệt vọng hiện đại. Rất nhiều người đang sống không có hy vọng bởi vì, giống như người Ê-phê-sô xưa, họ đang sống không có Chúa trong thế giới này (Ê-phê-sô 2:12).
Chúng ta thấy cuộc khủng hoảng này trong việc thúc đẩy hợp pháp hóa tự sát và an tử; trong dịch bệnh nghiện fentanyl, cần sa, rượu, phim khiêu dâm, trò chơi điện tử và những nỗ lực khác để trốn tránh cuộc sống con người; trong việc mất đi mong muốn thực hiện những cam kết trọn đời hoặc truyền lại sự sống vì sự tuyệt vọng về tương lai; và trong sự bùng nổ của sự cô đơn, cô lập, sợ hãi, lo lắng và thiếu ý nghĩa đang hoành hành con người ở mọi thế hệ, đặc biệt là rất nhiều người trẻ. Một cuộc khảo sát năm 2023 đối với học sinh trung học Hoa Kỳ do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh thực hiện cho thấy 42% (và 57% là nữ sinh) cho biết họ cảm thấy tuyệt vọng hoặc buồn bã dai dẳng, 18% đã lên kế hoạch cụ thể về cách kết thúc cuộc đời mình trong năm trước đó, và 10% thực sự đã cố gắng thực hiện kế hoạch đó — và may mắn thay đã thất bại. Năm Thánh đã mang đến cho Giáo hội cơ hội để nêu bật lý do cho niềm hy vọng của chúng ta trước đại dịch tuyệt vọng này.
Thứ ba, Đại lễ đã mang đến cho Giáo hội cơ hội để củng cố cánh chung học của mình, vốn đã suy yếu trong vài thập niên qua, với những hậu quả tai hại đối với đời sống và sứ mệnh của Giáo hội. Cốt lõi của vấn đề hiện đại về sự thiếu ý nghĩa là niềm tin rằng cuộc sống và những lựa chọn của chúng ta trên thế giới này không có nhiều ý nghĩa. Có một quan niệm phổ biến và độc hại cho rằng thực sự không quan trọng việc chúng ta tin vào Chúa Kitô hay kêu gọi đóng đinh Người, theo Người hay phản bội Người, thờ phượng Chúa hay thần tượng, nói thật hay nói dối, hy sinh vì người khác hay hy sinh người khác vì cái tôi của mình, bố thí hay trộm cắp, cứu sống hay phá thai, chung thủy với vợ chồng hay bỏ rơi họ. Lạc giáo này gợi ý, há chúng ta, về cơ bản, há tất cả chúng ta không kết cục ở cùng một “nơi tốt đẹp hơn” sau khi chết đó sao?
Niềm hy vọng, với trọng tâm là Nước Trời và điều mà Đức Benedict XVI gọi là “niềm hy vọng lớn lao” về sự sống đời đời, đã giúp chúng ta nhớ đến sự kết thúc của cuộc sống con người và những con đường mà Chúa Giêsu nói dẫn đến đó và không dẫn đến đó.
Trong sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng Phanxicô công bố Năm Thánh, ngài nói rằng niềm hy vọng Kitô giáo tìm thấy “nền tảng thiết yếu” của nó trong những lời “Tôi tin vào sự sống đời đời”, những lời này có ý nghĩa định hướng toàn bộ cuộc sống của người ta. Điều này mang lại ý nghĩa cho mọi lời nói, mọi quyết định của chúng ta. Mỗi khi chúng ta chọn sắp xếp cuộc sống của mình hướng về thiên đường, hướng về sự thánh thiện, về hạnh phúc vĩnh cửu, chúng ta chọn niềm hy vọng.
Thứ tư, Đại lễ đã thu hút hơn 30 triệu người đến Rome với tư cách là “những người hành hương của hy vọng” để tham dự các sự kiện khác nhau của Năm Thánh hoặc tự mình thực hiện nghi thức được ân xá qua Cánh cửa Năm Thánh mở rộng. Điều này tự nó đã là một lý do để hy vọng, bởi vì, bất chấp sự hỗn loạn kinh niên ở Rome, Rome, trái tim của Giáo hội, là một dịp gần gũi của ân sủng: Người ta được đắm mình trong Vẻ đẹp đã tuôn chảy từ đức tin Công Giáo qua nhiều thế kỷ và, trong khi xếp hàng chờ đợi, người ta không thể tránh khỏi việc gặp gỡ nhiều người có đức tin sống động, định hình cuộc sống và tràn đầy niềm vui.
Thành quả thứ năm là việc bầu chọn Đức Giáo Hoàng Leo XIV. Vị giáo hoàng đầu tiên sinh ra tại Hoa Kỳ không chỉ mang lại sự tươi mới và đổi mới cho chức vụ Thánh Phêrô và làm tăng số lượng người tham dự các sự kiện của giáo hoàng, mà mỗi cuộc bầu cử giáo hoàng đều chứng tỏ niềm tin của Giáo hội vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Những tiếng reo hò lớn nhất của Năm Thánh đã vang lên khi Hồng Y Dominique Mamberti tuyên bố vào ngày 8 tháng 5, “Tôi loan báo cho các bạn niềm vui lớn lao: Chúng ta đã có một vị giáo hoàng!” rất lâu trước khi bất cứ ai biết danh tính của vị giáo hoàng mới. Chính Thiên Chúa, Đấng luôn ban cho một Đức Thánh Cha làm đại diện trần gian của Chúa Kitô Con Người, là Đấng mà Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần và Giáo hội đều mời gọi chúng ta tin tưởng và hy vọng.
Bên cạnh những thành quả tích cực này, có một số điều lẽ ra có thể tốt hơn nhiều.
Thứ nhất, trong nhiều lĩnh vực, Năm Thánh vẫn nằm ở rìa đời sống Công Giáo. Mặc dù Năm Thánh được cho là sẽ ảnh hưởng đến mọi hoạt động của Giáo hội trong thời gian đặc biệt đó, nhưng vẫn có nhiều giáo xứ, trường học Công Giáo và các hoạt động tông đồ không cho thấy dấu hiệu nào cho thấy Giáo hội đang cử hành một năm thánh. Ngay cả trong thời đại thông tin khi mà các tín hữu Công Giáo dễ dàng biết được những gì đang xảy ra trong Giáo hội hoàn cầu, nhiều người vẫn không biết đến những ân sủng đó trừ khi giám mục, linh mục quản xứ, tuyên úy, hiệu trưởng và các nhà lãnh đạo Công Giáo khác thực sự suy nghĩ cùng với Giáo hội và cố gắng giúp những người được giao phó cho họ suy nghĩ và cầu nguyện cùng với Giáo hội.
Một ví dụ điển hình là các bài giáo lý do Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Leo giảng dạy trong suốt Năm Thánh. Những bài giảng này hầu như không có tác động nào đến Giáo hội, ngay cả đối với những người tham dự các buổi tiếp kiến riêng lẻ mà chúng được giảng dạy.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt đầu vào ngày 29 tháng 5 năm ngoái với nhiều bài học khác nhau về cách Chúa Thánh Thần “hướng dẫn dân Chúa đến với Chúa Giêsu, niềm hy vọng của chúng ta”, đưa chúng ta đi qua công cuộc tạo dựng, Kinh Thánh, cầu nguyện, cuộc đời của Chúa Giêsu và các bí tích, nhưng nỗ lực truyền thông của Giáo hội để đưa điều này đến các vùng ngoại vi lại rất kém hiệu quả. Điều tương tự cũng xảy ra với chu kỳ về “Chúa Giêsu Kitô, Niềm Hy Vọng của chúng ta” do Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng vào ngày 18 tháng 12 năm ngoái và được Đức Giáo Hoàng Leo kết thúc vào ngày 8 tháng 10; cũng như vậy với bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Leo về niềm hy vọng mà chúng ta nhận được từ “ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô soi rọi những thách thức của thế giới đương thời” kể từ ngày 15 tháng 10; và cũng tương tự với các buổi tiếp kiến Thứ Bảy trong Năm Thánh, mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt đầu vào ngày 11 tháng 1 và Đức Giáo Hoàng Leo tiếp tục vào ngày 14 tháng 6, nói chuyện với các tín hữu hành hương về nhiều khía cạnh của niềm hy vọng và những nhân vật minh họa cho những khía cạnh đó.
Trong thời điểm mà người Công Giáo cần được củng cố trong việc làm chứng cho niềm hy vọng, thật đáng thất vọng khi Giáo hội, đặc biệt là Vatican, đã không học được cách truyền đạt hiệu quả và làm cho thông điệp của mình có ý nghĩa.
Thất bại cuối cùng liên quan đến những chiêu trò của Năm Thánh, như logo cầu vồng mơ hồ hoặc linh vật hoạt hình ngớ ngẩn Luce. Giáo hội sở hữu di sản vẻ đẹp vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới và nên sử dụng nó như một nguồn cảm hứng cho những người khao khát Chúa qua sự siêu việt. Dù có thiện chí đến đâu, bất cứ khi nào đức tin bị đơn giản hóa, điều đó cho thấy đức tin ấy còn non nớt, chứ không phải là thánh thiện, và mục tiêu thực sự của Giáo hội không phải là giúp mọi người trưởng thành trọn vẹn trong Chúa Kitô.
Tuy nhiên, Năm Thánh vẫn chưa kết thúc, và những ngày cuối cùng này là cơ hội để chúng ta kết thúc năm thánh một cách mạnh mẽ. Có lý do tại sao Năm Thánh bắt đầu vào đêm Giáng sinh năm ngoái và sẽ kết thúc vào Lễ Hiển Linh, bởi vì niềm hy vọng gắn liền sâu sắc với mùa Vọng và mùa Giáng sinh.
Khi Giáo hội suy gẫm về ý nghĩa của sự giáng sinh của Chúa Kitô, Niềm Hy vọng của chúng ta, tại Bêlem, Giáo hội có thể rút ra niềm hy vọng lớn lao hơn nữa từ sự đồng hành liên tục của Người trong cuộc hành trình Thánh Thể của Giáo hội qua thời gian và khơi dậy hơn nữa khát vọng của chúng ta về sự viên mãn của niềm hy vọng lớn lao của chúng ta vào cuối thời gian.
Công nghị Hồng Y là gì – và điều gì khiến công nghị này trở nên đặc biệt?
Vũ Văn An
17:13 07/01/2026

Edgar Beltrán, trong bản tin của The Pillar ngày 07/01/2026, viết: Đức Giáo Hoàng Leo XIV sẽ tổ chức công nghị Hồng Y đầu tiên trong triều đại của ngài vào ngày 7-8 tháng 1, được dự đoán là biến cố lên chương trình lớn đầu tiên trong triều đại của ngài.
Công nghị Hồng Y đặc biệt này diễn ra sau một triều đại mà vị tiền nhiệm của Đức Leo, tức Đức Giáo Hoàng Phanxicô, hầu như tự hạn chế không tổ chức các cuộc gặp gỡ lớn với các Hồng Y, một điều bị nhiều vị phàn nàn trong các cuộc họp tiền Mật nghị Hồng Y năm ngoái.
Công nghị Hồng Y là gì?
Điều 353§1 của Bộ Giáo luật quy định: “Các Hồng Y đặc biệt hỗ trợ vị mục tử tối cao của Giáo hội thông qua hoạt động tập thể trong các công nghị mà họ được triệu tập theo lệnh của Đức Giáo Hoàng chủ tọa. Các công nghị có thể là thường kỳ hoặc bất thường.”
Các công nghị thường kỳ được triệu tập để tham khảo ý kiến về “một số vấn đề trọng đại xảy ra khá thường xuyên hoặc để thực hiện một số hành động rất long trọng.” Các công nghị này thường được triệu tập để bỏ phiếu về việc phong thánh hoặc phong chức Hồng Y mới.
Bất cứ Hồng Y nào cũng có thể tham gia công nghị thường kỳ, nhưng chỉ những người hiện diện tại Rome mới được mong đợi tham gia.
Các công nghị thường kỳ có thể được tổ chức công khai, và Đức Giáo Hoàng thậm chí có thể cho phép sự tham dự của các giám mục, linh mục và giáo dân—ví dụ, gia đình của các Hồng Y mới được phong chức khi công nghị được tổ chức để phong chức cho họ.
Ngược lại, các công nghị bất thường được tổ chức riêng tư “khi nhu cầu đặc biệt của Giáo hội hoặc việc xử lý các vấn đề trọng đại hơn đòi hỏi điều đó.” Tất cả các Hồng Y đều được kỳ vọng tham gia các công nghị bất thường, kể cả những vị trên 80 tuổi, những người không đủ điều kiện bỏ phiếu trong mật nghị Hồng Y.
Công nghị tuần này sẽ là một công nghị bất thường, vì vậy các thủ tục sẽ không được công khai.
Bộ Giáo luật không đề cập đến bất cứ quy định nào về tính thường xuyên đối với các công nghị thường kỳ hay bất thường. Thánh Gioan Phaolô II đã tổ chức sáu công nghị bất thường trong 26 năm trị vì của ngài; Đức Benedict XVI không tổ chức công nghị nào, ngài thích có những cuộc gặp gỡ không chính thức với các Hồng Y trước các công nghị thường kỳ; và Đức Phanxicô chỉ tổ chức hai công nghị trong 12 năm trị vì của ngài.
Tại sao Đức Giáo Hoàng lại triệu tập công nghị này?
Trong các cuộc họp trước mật nghị Hồng Y, được biết có nhiều lời phàn nàn rằng các Hồng Y không được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tham khảo ý kiến thường xuyên về các vấn đề giáo hội – và nhiều vị trong số các vị thậm chí không biết nhau.
Đức Giáo Hoàng Leo đã đề cập đến vấn đề này trong bài phát biểu trước các Hồng Y sau khi được bầu chọn vào tháng Năm, nói rằng nhiều Hồng Y đã yêu cầu “đối thoại… để nghe lời khuyên, đề xuất, ý kiến và các vấn đề cụ thể.”
Các cuộc gặp gỡ với toàn thể Hồng Y đoàn rất hiếm trong suốt triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Công nghị thường kỳ đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Phanxicô diễn ra trước Thượng Hội đồng Gia đình năm 2014. Tại đó, Hồng Y Walter Kasper đã có một bài phát biểu dài, trong đó ngài đề xuất rằng các cặp vợ chồng ly hôn và tái hôn có thể được rước lễ.
Bài phát biểu này đã gây ra sự phẫn nộ trong số nhiều Hồng Y, với Hồng Y Gerhard Müller, khi đó là người đứng đầu Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, đã công khai tuyên bố rằng “Tín điều của Giáo hội không chỉ là bất cứ lý thuyết nào do một số nhà thần học đưa ra, mà đó là giáo lý của Giáo hội, không gì khác hơn là lời của Chúa Giêsu Kitô, một điều rất rõ ràng.”
Sau đó, Đức Giáo Hoàng Phanxicô thích tổ chức các cuộc gặp với nhóm “C-9” – một nhóm gồm chín Hồng Y được đích thân ngài lựa chọn để làm cố vấn chính thức – hoặc gặp riêng từng Hồng Y hoặc theo nhóm nhỏ thay vì gặp toàn thể Hồng Y đoàn.
Cuộc gặp duy nhất khác của Đức Giáo Hoàng Phanxicô với toàn thể Hồng Y đoàn là vào năm 2022 để thảo luận về Praedicate evangelium, tông hiến cải cách Giáo triều Rôma. Ngay cả khi đó, văn phòng báo chí Vatican cũng không gọi cuộc họp là “công nghị”, và nhiều Hồng Y phàn nàn rằng họ chỉ được triệu tập sau khi văn kiện đã được công bố, và họ không được tham khảo ý kiến trước đó.
Công nghị tuần này dự kiến sẽ là cuộc họp mang tính lên chương trình đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, diễn ra chỉ một ngày sau khi kết thúc Năm Thánh.
Theo một bức thư do Đức Giáo Hoàng gửi cho Hồng Y đoàn và được đăng tải trên một số phương tiện truyền thông, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã yêu cầu các giám mục đọc lại Evangelii gaudium, tông huấn đầu tiên trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và Praedicate evangelium. Ngài cũng nói rằng tính đồng nghị và phụng vụ sẽ là hai chủ đề được thảo luận.
Mặc dù bức thư có đề cập đến phụng vụ, nhưng nó không đề cập đến Thánh lễ Latinh truyền thống, điều đó có nghĩa là cuộc thảo luận về phụng vụ rất có thể sẽ rộng hơn chứ không chỉ giới hạn ở các chủ đề liên quan đến Thánh lễ Latinh truyền thống.
Công nghị sẽ được tiến hành như thế nào?
Thông cáo của Văn phòng báo chí Vatican cho biết, công nghị sẽ bao gồm “những khoảnh khắc hiệp thông và bác ái, cũng như những thời gian dành cho suy niệm, chia sẻ và cầu nguyện”.
“Những khoảnh khắc này sẽ hướng đến việc thúc đẩy sự phân định chung và hỗ trợ, tư vấn cho Đức Thánh Cha trong việc thực thi trách nhiệm cao cả và đầy thách thức trong việc cai quản Giáo hội hoàn vũ”, thông cáo cho biết thêm.
Các báo cáo truyền thông cho biết công nghị sẽ bắt đầu lúc 3 giờ chiều ngày 7 tháng 1, với các cuộc họp trong các nhóm làm việc nhỏ thay vì phiên họp toàn thể, đây là hình thức tương tự được sử dụng trong cuộc họp năm 2022 về cải cách Giáo triều Rôma. Phiên họp sẽ kết thúc lúc 6 giờ 45 chiều, sau đó Đức Giáo Hoàng sẽ phát biểu trước toàn thể Hồng Y đoàn.
Ngày thứ hai của công nghị sẽ bắt đầu bằng Thánh lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, sau đó phiên họp thứ hai sẽ bắt đầu. Các nhóm làm việc dự kiến sẽ trình bày báo cáo về các cuộc thảo luận của họ và, vào buổi trưa, các Hồng Y có thể phát biểu công khai cho đến giờ ăn trưa.
Sau bữa trưa với Đức Giáo Hoàng, phiên họp thứ ba và cũng là phiên cuối cùng sẽ bắt đầu lúc 3:15 chiều, dự kiến kết thúc lúc 6:45 chiều với bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng và lời cầu nguyện Te Deum.
Bài Giáo lý hàng tuần của Đức Giáo Hoàng Leo XIV: Đọc lại các văn kiện của Công đồng Vatican II.
Vũ Văn An
22:06 07/01/2026

Kathleen N. Hattrup, trong bản tin của Aleteia ngày 07/01/2026, cho hay: Với loạt bài giáo lý mới vào các ngày thứ Tư, Đức Giáo Hoàng cho biết ngài dự định mời gọi các tín hữu “khám phá lại vẻ đẹp và tầm quan trọng” của Công đồng Vatican II, không phải “qua lời đồn” mà bằng cách đọc lại các văn kiện của Công đồng.
Thực vậy, tại buổi tiếp kiến chung đầu tiên trong năm, vào ngày 7 tháng 1 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã bắt đầu một loạt bài giáo lý mới về Công đồng Vatican II.
Công đồng này, quy tụ các giám mục trên toàn thế giới tại Rome trong bốn phiên họp từ ngày 11 tháng 10 năm 1962 đến ngày 8 tháng 12 năm 1965, đại diện cho một bước ngoặt đối với Giáo Hội Công Giáo, đặc biệt trong mối quan hệ với các tôn giáo khác và với thế giới hiện đại.
Đây là chủ đề giảng dạy đầu tiên được Đức Giáo Hoàng Leo lựa chọn: Năm 2025, ngài tiếp tục chương trình dành cho Năm Thánh Hy Vọng do vị tiền nhiệm của ngài là Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng.
Với loạt bài giáo lý mới được khai mạc vào thứ Tư, Đức Giáo Hoàng cho biết ngài dự định mời gọi các tín hữu “tái khám phá vẻ đẹp và tầm quan trọng” của Công đồng Vatican II, không phải “qua lời đồn” mà bằng cách đọc lại các văn kiện của Công đồng.
Bắt đầu từ đâu?
Đầu năm nay, Aleteia đã đưa vào cuối các bài viết của chúng tôi một cuộc khảo sát với một câu hỏi đơn giản: Bạn đã bao giờ đọc một văn kiện nào của Công đồng Vatican II chưa? Hơn 60% trả lời là chưa!
Trong khi Đức Giáo Hoàng Leo có thể hướng dẫn chúng ta nên bắt đầu từ đâu vào tuần tới, thì trong thời gian này, chúng tôi đề xuất Hiến chế Dei Verbum (Lời Chúa).
Điều này là bởi vì ý nguyện cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng trong tháng này là “Cầu nguyện với Lời Chúa”:
Chúng ta hãy cầu nguyện để việc cầu nguyện với Lời Chúa trở thành nguồn nuôi dưỡng đời sống chúng ta và là nguồn hy vọng trong cộng đồng của chúng ta, giúp chúng ta xây dựng một Giáo hội huynh đệ và truyền giáo hơn.
Trích dẫn rộng rãi từ tất cả các vị tiền nhiệm của ngài — Đức Phanxicô, Đức Benedict XVI, Đức Gioan Phaolô II, Đức Gioan Phaolô I, Đức Phaolô VI và Đức Gioan XXIII — vị Giáo hoàng thứ 267 khẳng định rằng sự kiện này, đã kết thúc cách đây hơn 60 năm, vẫn không hề mất đi tính thời sự và “tiên tri” của nó.
Cùng với lễ kỷ niệm Công đồng Ni-xê-a, năm 2025 chúng ta kỷ niệm 60 năm Công đồng Vatican II. Mặc dù thời gian ngăn cách chúng ta với sự kiện này không dài lắm, nhưng điều cũng đúng là thế hệ các giám mục, thần học gia và tín hữu của Công đồng Vatican II không còn ở với chúng ta nữa.
Đức Leo nói rằng “huấn quyền vẫn là ngọn hải đăng soi đường cho Giáo hội ngày nay”.
Dung mạo Thiên Chúa
Đối với Leo XIV, công việc của hơn 2,000 Nghị phụ Công đồng từ khắp các châu lục đã mở đường “cho một kỷ nguyên Giáo hội mới”. Phác thảo những định hướng chính của thời điểm then chốt này, ngài đã đề cập đến việc tái khám phá “dung mạo Thiên Chúa là Cha”, cũng như cuộc cải cách phụng vụ đặt “trung tâm là mầu nhiệm ơn cứu độ và sự tham gia tích cực và có ý thức của toàn thể dân Chúa”.
Đức Giáo Hoàng tiếp tục nói rằng, Công đồng Vatican II “đã giúp chúng ta mở lòng với thế giới và nắm bắt những thay đổi và thách thức của thời đại hiện đại thông qua đối thoại và trách nhiệm chung, như một Giáo hội mong muốn mở rộng vòng tay đón nhận nhân loại”.
Ngài cũng đề cập đến lập trường của Công đồng trong việc tìm kiếm chân lý “thông qua đại kết, đối thoại liên tôn và đối thoại với những người thiện chí”.
Xuyên suốt bài phát biểu của mình, Đức Giáo Hoàng Leo XIV bày tỏ mong muốn Giáo Hội Công Giáo được thấm nhuần “bản chất bên trong” và tinh thần của Công đồng.
Ngài nhấn mạnh: “Chúng ta vẫn phải thực hiện đầy đủ cuộc cải cách Giáo hội một cách mục vụ”.
Bằng cách mời gọi quay trở lại với các văn kiện của Công đồng — vốn đã tạo ra bốn hiến pháp, ba tuyên bố và chín sắc lệnh — Đức Giáo Hoàng Leo XIV gợi ý rằng việc đọc lại này sẽ giúp “khôi phục quyền tối cao cho Thiên Chúa, cho những điều cốt yếu” và “cộng tác trong việc xây dựng một xã hội công bằng và huynh đệ hơn”.
Ngài kêu gọi Giáo hội đổi mới “niềm vui đi ra gặp gỡ thế giới để mang đến cho thế giới Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, một vương quốc của tình yêu thương, công lý và hòa bình”.
Sau đây là nguyên văn bài Giáo lý của ngài dựa vào bản tiếng Ý của Tòa Thánh:
Giáo lý. Công đồng Vatican II qua các Văn kiện. Giáo lý Nhập môn
Chào anh chị em buổi sáng và xin chào mừng anh chị em!
Sau Năm Thánh, trong đó chúng ta tập trung vào các mầu nhiệm trong đời sống Chúa Giêsu, chúng ta bắt đầu một loạt bài giáo lý mới dành riêng cho Công đồng Vatican II và việc đọc lại các Văn kiện của Công đồng. Đây là một cơ hội quý giá để khám phá lại vẻ đẹp và tầm quan trọng của sự kiện Giáo hội này. Thánh Gioan Phaolô II, vào cuối Năm Thánh 2000, đã tuyên bố: "Tôi cảm thấy hơn bao giờ hết bổn phận phải chỉ ra Công đồng như là ân sủng lớn lao mà Giáo hội đã được hưởng trong thế kỷ XX" (Tông thư Novo Millennio Ineunte, 57).
Cùng với lễ kỷ niệm Công đồng Ni-xê-a, năm 2025 chúng ta kỷ niệm 60 năm Công đồng Vatican II. Mặc dù thời gian ngăn cách chúng ta với sự kiện này không quá dài, nhưng đúng là thế hệ các giám mục, thần học gia và tín hữu của Công đồng Vatican II ngày nay không còn ở bên chúng ta nữa. Vì vậy, trong khi chúng ta cảm nhận được lời kêu gọi không được làm lu mờ lời tiên tri của Công đồng và tiếp tục tìm kiếm các phương cách để thực hiện những hiểu biết của nó, điều quan trọng là phải làm quen lại với nó, và làm như vậy không phải thông qua lời đồn đại hay những diễn giải đã được đưa ra, mà bằng cách đọc lại các Văn kiện của Công đồng và suy gẫm về nội dung của chúng. Thật vậy, Huấn quyền vẫn là ngọn đèn soi đường cho hành trình của Giáo hội ngày nay. Như Đức Benedict XVI đã dạy, "qua năm tháng, các văn kiện không mất đi tính thời sự; những giáo huấn của chúng tỏ ra đặc biệt phù hợp với những nhu cầu mới của Giáo hội và của xã hội hoàn cầu hóa ngày nay" (Thông điệp đầu tiên sau Thánh lễ với các Hồng Y tuyển cử, ngày 20 tháng 4 năm 2005).
Khi Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII khai mạc Công đồng vào ngày 11 tháng 10 năm 1962, ngài đã nói về nó như là bình minh của một ngày tươi sáng cho toàn thể Giáo hội. Công việc của nhiều vị Nghị phụ được triệu tập, đến từ các Giáo hội trên mọi châu lục, đã hữu hiệu mở đường cho một kỷ nguyên Giáo hội mới. Sau một quá trình suy tư Kinh Thánh, thần học và phụng vụ phong phú kéo dài suốt thế kỷ XX, Công đồng Vatican II đã tái khám phá dung mạo của Thiên Chúa như một người Cha, Đấng trong Chúa Kitô, kêu gọi chúng ta trở thành con cái của Người. Công đồng nhìn nhận Giáo hội dưới ánh sáng của Chúa Kitô, ánh sáng của dân Chúa, như một mầu nhiệm hiệp thông và một bí tích hiệp nhất giữa Thiên Chúa và dân Người. Người đã khởi xướng một cuộc cải cách phụng vụ lớn, đặt mầu nhiệm ơn cứu độ và sự tham gia tích cực và có ý thức của toàn thể dân Chúa vào trung tâm của cuộc cải cách này. Đồng thời, Người đã giúp chúng ta mở lòng với thế giới và đón nhận những thay đổi và thách thức của thời hiện đại thông qua đối thoại và trách nhiệm chung, như một Giáo hội mong muốn mở rộng vòng tay đón nhận nhân loại, vang vọng những hy vọng và lo lắng của các dân tộc, và cộng tác xây dựng một xã hội công bằng và bác ái hơn.
Nhờ Công đồng Vatican II, "Giáo hội trở thành Lời; Giáo hội trở thành Sứ điệp; Giáo hội trở thành Đối thoại" (Thánh Phaolô VI, Thông điệp Ecclesiam Suam, 67), cam kết tìm kiếm chân lý thông qua đại kết, đối thoại liên tôn và đối thoại với những người thiện chí.
Tinh thần này, thái độ nội tâm này, phải là đặc điểm của đời sống tâm linh và hoạt động mục vụ của Giáo hội, vì chúng ta phải tiếp tục thực hiện đầy đủ hơn nữa cuộc cải cách Giáo hội một cách hữu hình và, đối diện với những thách thức ngày nay, chúng ta được mời gọi phải luôn chú tâm giải thích những dấu hiệu của thời đại, là những người loan báo Tin Mừng, là những chứng nhân can đảm của công lý và hòa bình. Giám mục Albino Luciani, vị Giáo hoàng tương lai Gioan Phaolô I, khi còn là Giám mục của Vittorio Veneto, đã viết một cách tiên tri vào đầu Công đồng: "Như mọi khi, cần phải tạo ra không phải nhiều cơ chế, phương pháp hay cấu trúc, mà là một sự thánh thiện sâu sắc hơn và lan rộng hơn. […] Có thể những thành quả tuyệt vời và phong phú của một Công đồng sẽ được nhìn thấy nhiều thế kỷ sau và sẽ chín muồi bằng cách kiên trì vượt qua các xung đột và tình huống bất lợi." [1] Do đó, việc khám phá lại Công đồng, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói, giúp chúng ta "khôi phục quyền tối cao cho Thiên Chúa và cho một Giáo hội cuồng nhiệt với tình yêu dành cho Chúa và cho tất cả mọi người, được Người yêu thương" (Bài giảng nhân kỷ niệm 60 năm ngày bắt đầu Công đồng Vatican II, ngày 11 tháng 10 năm 2022).
Thưa anh chị em, những gì Thánh Phaolô VI đã nói với các Nghị phụ Công đồng vào cuối công việc của họ vẫn là nguyên tắc chỉ đạo cho chúng ta ngày nay; Ngài khẳng định rằng đã đến lúc phải ra đi, rời khỏi hội nghị công đồng để đi ra gặp gỡ nhân loại và mang đến cho họ tin vui của Tin Mừng, trong nhận thức rằng mình đã sống một thời kỳ ân sủng trong đó quá khứ, hiện tại và tương lai được cô đọng: "Quá khứ: bởi vì Giáo hội của Chúa Kitô quy tụ ở đây, với truyền thống, lịch sử, các Công đồng, các Tiến sĩ, các Thánh của mình. [...] Hiện tại: bởi vì chúng ta chia tay nhau để hướng tới thế giới ngày nay, với những bất hạnh, nỗi đau, tội lỗi của nó, nhưng cũng với những chiến thắng vĩ đại, những giá trị, những đức tính tốt đẹp của nó. [...] Tương lai, cuối cùng, đã ở đó, trong lời kêu gọi tha thiết của các dân tộc về công lý lớn hơn, trong khát vọng hòa bình của họ, trong cơn khát có ý thức hoặc vô thức của họ về một cuộc sống cao cả hơn: chính là điều mà Giáo hội của Chúa Kitô có thể và muốn ban cho họ” (Thánh Phaolô VI, Thông điệp gửi các Nghị phụ Công đồng, ngày 8 tháng 12 năm 1965).
Đối với chúng ta cũng vậy. Bằng cách tiếp cận các Văn kiện của Công đồng Vatican II và khám phá lại tính tiên tri và tính thời sự của chúng, chúng ta đón nhận truyền thống phong phú của đời sống Giáo hội và đồng thời, chúng ta tự vấn về hiện tại và làm mới niềm vui chạy đến thế giới để mang đến cho thế giới Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, một vương quốc của tình yêu thương, công lý và hòa bình.
______________________________
[1] A. Luciani – Gioan Phaolô I, Ghi chú về Công đồng, trong Opera omnia, tập II, Vittorio Veneto 1959-1962. Bài phát biểu, bài viết, bài báo, Padua 1988, 451-453.
Tin Giáo Hội Việt Nam
Đại hội toàn quốc Cursilo Úc Châu Ngành Việt Nam Tại Bringelly Ngày 3/1/2025.