THẬP GIÁ
“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.”
(Lc 9, 23)
1. Nếu con cam tâm vác thập giá thì thập giá có thể nâng đỡ con, khiến cho con hy vọng đi đến nơi miến đất phúc lành, ở đó sẽ không có đau khổ.
(sách Gương Chúa Giê-su)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
-----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Có một thầy giáo đi dạy tư, học trò hỏi:
- “Đại học chi đạo” là gì?”
Thầy giáo làm bộ như người say rượu trách mắng học trò:
- “Mày cứ đợi khi ta say rồi mới hỏi”.
Sau khi tan học, thầy giáo đem chuyện ấy về nói với vợ, vợ cười nói:
- “Đại học” là tên quyển sách, “chi đạo” là đạo lý ở trong sách”.
Ngày thứ hai ông ta nói với học sinh:
- “Mày đúng là bất trí, ta say thì lại đến hỏi, hôm nay ta tỉnh rượu vẫn không lại hỏi, tại sao? Hôm qua mày hỏi gì?”
Học sinh đáp:
- ”Đại học chi đạo”
Thầy chỉ nói ra những lời của vợ.
Học sinh lại hỏi:
- “Tại minh minh đức” nghĩa là gì?”
Thầy giáo vội vàng vỗ vỗ trán nói:
- “Từ từ, ta vẫn còn say chút xíu, đầu óc không rõ ràng lắm”.
(Tiếu lâm quảng ký)
Suy tư 54:
Có nhiều người tức tối với người khác nhưng nói không được, thế là mượn rượu say say tỉnh tỉnh để nói, để chửi người khác; có người muốn quên đi cái hiện tại đau khổ của mình, thế là đi uống rượu, say say tỉnh tỉnh quên mất hiện tại và quên mất mình là ai.
Có một vài người Ki-tô hữu hễ nghe ai nhắc đến chuyện đạo đức lễ lạt nhà thờ thi say say tỉnh tỉnh, làm như mình từ cung trăng rơi xuống, hết làm bộ tặc lưỡi: ủa hôm nay là chúa nhật à; ủa, hôm nay nhà thờ có tĩnh tâm à; ủa, cha sở có dặn như thế sao.v.v… và ủa rồi đến ủa, họ làm như mình đang say và tiếc rẻ vì không được đi tham dự thánh lễ, nhưng thực ra họ đều biết rất rõ ngày chúa nhật.
Say tỉnh là trạng thái của người nghiện rượu, làm bộ tặc lưỡi tiếc rẻ “ủa, ủa…” là biến thái của người đang đi xa dần chính đạo, say say tỉnh tỉnh như con thuyền tròng trành trong biển cả cuộc đời xa dần hải đăng của mình là Đức Chúa Giê-su Ki-tô.
Thật tội nghiệp cho họ !
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
---------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.
“Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh tốt, thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!”
SUY NIỆM CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN – NĂM A
(Mt 10, 26 -33)
Con người ở mọi nơi mọi thời đều mang trong mình những nỗi sợ. Sợ đau khổ, sợ thất bại, sợ bị từ chối, sợ mất danh dự, mất của cải, sợ bệnh tật.v.v. và cuối cùng là sợ chết.
Càng văn minh con người càng có nhiều nỗi sợ mới. Sợ hãi gắn liền với sự mong manh của phận người. Lời Chúa hôm nay xoay quanh một chủ đề rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta là: nỗi sợ hãi.
Không sợ, vì có Chúa ở cùng
Giêrêmia, sứ ngôn của Đức Chúa. Vì trung thành với sứ mạng tiên tri được Chúa trao phó, nên dù ông bị gài bẫy, khủng bố, lừa gạt, vu khống, chế nhạo và phản bội. Ngay cả người thân cũng tìm cách hại ông (x.Gr 20,10-12). Ông không phủ nhận nỗi sợ và khổ đau, nhưng tín thác vào Chúa, ông tuyên xưng: “Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng” (Gr 20, 1…). Sự hiện diện của Chúa là nguồn sức mạnh giúp ông đứng vững giữa thử thách và không sợ hãi.
Lịch sử Giáo Hội mình chứng, có biết bao vị thánh không chiến thắng nhờ sức riêng mình, nhưng nhờ xác tín rằng Thiên Chúa luôn hiện diện. Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa không luôn cất khỏi chúng ta thử thách, nhưng Người ban sức mạnh để chúng ta vượt qua thử thách.” Đức tin không loại bỏ thập giá, nhưng giúp chúng ta mang lấy thập giá với niềm hy vọng. Vì thế, khi bị hiểu lầm, chống đối hay thất bại, chúng ta được mời gọi noi gương Giêrêmia: thay vì tuyệt vọng hay trả thù, hãy phó thác cho Chúa.
Câu Thánh vịnh: “Sự nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi” (Tv 69,10) là lời than vãn của người công chính. Dù chịu nhục nhã, bị chính anh em ruồng bỏ và trở thành đối tượng của sự chống đối. Giữa đau khổ và sợ hãi, Người công chính không tìm kiếm sự báo thù nhưng vẫn một niềm tín thác chạy đến với lòng thương xót của Thiên Chúa: “Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi.” (Tv 60,14).
Lời Thánh vịnh trên mời gọi chúng ta biến những tổn thương, thất vọng và hy sinh thành lời cầu nguyện. Thay vì cay đắng hay thất vọng, thì hãy kiên trì tìm kiếm Chúa, tin tưởng vào lòng thương xót của. Chính trong những lúc tưởng như bị bỏ rơi, Thiên Chúa đang thực hiện công trình cứu độ của Người nơi chúng ta.
Trong thư gửi tín hữu Rôma Rm 5, 12-15, Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta căn nguyên của mọi nỗi sợ hãi: đó là tội lỗi và sự chết. Qua Ađam, tội lỗi đã đi vào thế gian và kéo theo sự chết. Nhưng điều kỳ diệu là Thiên Chúa không để tội lỗi chiến thắng. Qua Đức Giêsu Kitô, Ađam mới, nhân loại nhận được ân sủng dồi dào hơn gấp bội.
Hãy tin rằng, chúng ta không phải là những con người bị định mệnh tội lỗi thống trị. Chúng ta là những người đã được cứu chuộc.
Đừng sợ, hãy vững tin vào Chúa
Xem ra, nỗi sợ hãi luôn ám ảnh con người và dù muốn dù không con người vẫn bị bủa vây bởi trăm ngàn mối hiểm nguy. Thấu hiều điều đó, nên khi dạy dỗ cho các môn đệ, Chúa Giêsu lặp lại đến ba lần: “Các con đừng sợ!” (Mt 10,26.28.31). “Các con đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn… đừng sợ, các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần” (x. Mt 10, 28-31).
Lời khuyên “Đừng sợ” của Chúa Giêsu đã trở thành sức mạnh cho Giáo Hội. Hai mươi thế kỷ sau, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lập lại lời Thầy Chí Thánh: “Đừng sợ”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, ngài đã không ngừng kêu gọi mọi người “Đừng sợ”:
“Anh chị em đừng sợ đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Người!”.
“Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.
“Đừng sợ! Chúa Kitô biết rõ “mọi điều trong lòng người”! Và chỉ một mình Người biết rõ” (Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng – Bài giảng lễ khai mạc sứ vụ Tông đồ Phêrô).
Từ “Đừng sợ” lại vang lên trong bài giảng thứ hai trên cương vị giáo hoàng. Đừng sợ đón lấy và thực thi lối sống Tin Mừng. Đó là sống yêu thương, không hận thù, như chính Đức Kitô yêu thương và đã tha thứ cho kẻ bách hại mình: “Tình yêu thì kiến tạo. Chỉ có tình yêu mới có thể kiến tạo được. Còn thù hận thì phá hủy. Lòng hận thù không kiến tạo được gì hết. Nó chỉ gây đổ vỡ. Nó làm tan nát đời sống xã hội. Nó chỉ có thể gây sức ép đối với những người yếu đuối và chẳng xây dựng nổi một điều gì” (Gioan Phaolô II – Bài giảng lễ nhận nhà thờ Chánh tòa Gioan Latêranô của Giám mục Rôma, Chúa nhật 12-11-1978)
Thật vậy, sống ở đời làm sao tránh khỏi những căng thẳng, lo âu, sợ hãi khi gặp khó khăn, nguy hiểm. Chính Chúa Giêsu cũng có những lúc bàng hoàng xao xuyến. Khi bảo: “Các con đừng sợ” Chúa Giêsu muốn ta đừng để cảm xúc sợ hãi làm tê liệt đời sống chúng ta. Người bảo chúng ta: “đừng sợ” ngay trong mọi biến động, vì “Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ” (Gr 20,13). “Đừng sợ”, khi phải đối diện với đau khổ hay sự chết bởi vì Thiên Chúa, Đấng yêu thương quan tâm chăm sóc chúng ta, vì Ngài là Cha nhân từ, trung tín, thấu hiểu chúng ta cần gì, vì đối với Ngài, chúng ta “quý hơn muôn vàn chim sẻ” (x. Mt 10,31).
Ước gì mỗi người chúng ta biết đặt mọi lo âu, sợ hãi và gánh nặng cuộc đời vào tay Chúa. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
Đức Hồng Y Camillo Ruini, nguyên Tổng Đại Diện của giáo phận Rôma, nguyên Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý trong 2 thập niên đã được Chúa gọi về hôm Thứ Ba, 16 Tháng Sáu. Edward Pentin của National Catholic Register có bài nhận định nhan đề “Cardinal Ruini, John Paul II’s Chief Strategist in Italy, Dies at Age 95”, nghĩa là “Hồng Y Ruini, chiến lược gia trưởng của Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại Ý, qua đời ở tuổi 95.”.
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Với tư cách là nhà lãnh đạo hội đồng giám mục Ý và là tổng đại diện của Rôma trong những thập niên 1990 và 2000, vị Hồng Y thường có những lập trường mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề xã hội và đạo đức, điều này đã tạo cho ngài danh tiếng trong việc góp phần định hình dư luận giáo hội và chính trị.
Về mặt cá nhân, ngài lịch sự, kín đáo và thậm chí có phần nhút nhát, nhưng ngài cũng rất sắc sảo về trí tuệ, khôn ngoan về chính trị và rất kiên quyết trong các vấn đề nguyên tắc, đặc biệt là khi liên quan đến các vấn đề “không thể thỏa hiệp” như quyền sống, hôn nhân và gia đình. Ngài thường chỉ trích gay gắt các ý tưởng hơn là cá nhân, trong khi vẫn giữ thái độ lịch sự và tôn trọng đối với những người bất đồng chính kiến.
Tất cả những điều này đã biến ngài trở thành cộng sự đáng tin cậy của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II — và sau này là của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 — khi ngài cống hiến hết mình để giữ cho Giáo Hội Công Giáo ở Ý có tầm ảnh hưởng trong thời điểm chủ nghĩa thế tục ngày càng chiếm ưu thế trong chính trị và xã hội của quốc gia.
Kỹ năng và sự khéo léo của ngài thể hiện rõ nhất vào năm 2004 khi ngài kêu gọi người Công Giáo Ý tẩy chay cuộc trưng cầu dân ý ủng hộ việc nới lỏng các quy định pháp luật của Ý về thụ tinh trong ống nghiệm, gọi tắt là IVF. Cuộc bỏ phiếu năm sau đó đã thất bại do tỷ lệ tham gia thấp, và trong khi những người theo chủ nghĩa thế tục cáo buộc Hồng Y Ruini đã vượt quá giới hạn của một giáo sĩ, những người khác lại ca ngợi chiến lược và quyết tâm lên tiếng của ngài. Một số người trìu mến đặt cho ngài biệt danh “rovini”, có nghĩa là “kẻ phá hoại” kế hoạch của những người theo chủ nghĩa thế tục.
Một năm sau, vị Hồng Y đã gây phẫn nộ cho “nhóm vận động quyền lợi người đồng tính” khi cảnh báo rằng việc công nhận hợp pháp hoàn toàn cho các cặp chưa kết hôn sẽ là “sự lu mờ bản chất và giá trị của gia đình và là một tổn hại nghiêm trọng đối với người dân Ý”. Năm 2007, ngài là người chủ trì và truyền cảm hứng cho một cuộc biểu tình lớn nhân Ngày Gia đình ở Rôma, nhằm ngăn chặn luật hôn nhân dân sự do chính phủ của Romano Prodi thúc đẩy. Ngài cũng lên tiếng trong một số vụ án nổi tiếng liên quan đến “quyền được chết”, luôn luôn bảo vệ sự thánh thiêng của cuộc sống con người.
Cũng nổi tiếng với quan điểm về mối quan hệ giữa đức tin và chính trị, Đức Hồng Y Ruini thường xuyên đề cập đến các vấn đề như chủ nghĩa thế tục, một “chủ nghĩa thế tục lành mạnh” liên quan đến Hồi giáo, và điều mà ngài coi là “xu hướng duy vật của con người hiện đại”, mà ngài xem là mối đe dọa đáng kể đối với đức tin tôn giáo.
Tại Ý, ngài đặc biệt nổi tiếng với vai trò là kiến trúc sư và chủ tịch lâu năm của “dự án văn hóa” của Giáo hội, được hình thành sau sự sụp đổ của kỷ nguyên Dân chủ Kitô giáo đã thống trị nền chính trị Ý thời hậu chiến. Dự án này nhằm mục đích chuyển hướng ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo từ chính trị đảng phái sang công việc sâu sắc hơn là định hình văn hóa quốc gia và tranh luận công khai.
Sứ mệnh truyền giáo
Cả Đức Hồng Y và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đều hợp tác tốt với nhau, mang lại sự mạch lạc mới cho sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội và xây dựng một khuôn khổ liên quan đến các thông điệp của Đức Gioan Phaolô II. Nhưng lập trường của ngài cũng vấp phải sự phản đối trong Giáo hội, đặc biệt là từ các đồng minh của Hồng Y Dòng Tên Carlo Maria Martini, cựu Tổng Giám Mục Milan, người tin rằng ngài đang từ bỏ “tinh thần của Công đồng”.
“Đức Hồng Y Ruini xứng đáng được ghi nhận vì đã chèo lái con thuyền vượt qua cơn bão, vì đã chia sẻ tầm nhìn của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và vì đã đấu tranh để thực hiện tầm nhìn đó ở đất nước chúng ta,” nhà bình luận người Ý, Giáo sư Stefano Fontana, viết trên tờ La Nuova Bussola Quotidiana ngày 17 tháng 6.
Sinh ra tại Sassuolo, tỉnh Modena, vào ngày 19 tháng 2 năm 1931, Camillo Ruini là con trai của một bác sĩ địa phương. Trong thời gian đi học và cuối tuổi thiếu niên, ngài đã nhận ra ơn gọi làm linh mục. Năm 18 tuổi, ngài vào chủng viện, sau đó tiếp tục học triết học và thần học tại Reggio Emilia và sau đó tại Đại học Giáo hoàng Grêgôriô ở Rôma.
Được thụ phong linh mục vào ngày 8 tháng 12 năm 1954, Ruini trở về quê hương Reggio Emilia ba năm sau đó, nơi ngài dành gần hai thập niên đào tạo các linh mục trẻ với tư cách là cha giáo môn triết học tại chủng viện giáo phận trước khi trở thành một giáo sư được kính trọng rộng rãi và sau đó là nhà lãnh đạo các viện thần học liên giáo phận và học thuật ở Modena và Bologna. Song song với việc giảng dạy, ngài dốc sức vào các hoạt động tông đồ giáo dân, phục vụ với tư cách là tuyên úy cho các sinh viên tốt nghiệp đại học Công Giáo, đại diện giáo phận cho Phong trào Công Giáo Tiến hành, và chủ tịch Trung tâm Văn hóa Gioan XXIII — những công việc đã mài giũa bản năng trí tuệ và mục vụ mà sau này ngài mang đến sân khấu quốc gia.
Được bổ nhiệm làm Giám Mục Phụ Tá của Reggio Emilia-Guastalla năm 1983, ngài nhanh chóng nổi lên như một người tổ chức chủ chốt của hội nghị giáo phận Loreto năm 1985, một nỗ lực mang tính bước ngoặt nhằm thiết lập lại mối quan hệ giữa Giáo hội và xã hội Ý sau những biến động chính trị và giáo hội của những năm 1960 và 1970. Năm 1985, ngài tham gia ủy ban giám mục về giáo dục, văn hóa và trường học Công Giáo.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong ngài làm Hồng Y vào năm 1991, sau đó ngài bước vào giai đoạn quyết định trong sự nghiệp giám mục của mình với tư cách là chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý (1991–2007) và tổng đại diện Giáo phận Rôma (1991–2008). Là thành viên của một số cơ quan thuộc Tòa Thánh và là tác giả của nhiều bài luận và công trình nghiên cứu, ngài cũng từng giữ chức hiệu trưởng Đại học Giáo hoàng Latêranô. Ngài đóng vai trò quan trọng trong Cơ Mật Viện Hồng Y năm 2005 bầu chọn Đức Bênêđíctô XVI, và từ năm 2010 đến năm 2014, theo yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, ngài giữ chức chủ tịch Ủy ban Điều tra Quốc tế về Medjugorje. Ngài cũng đứng đầu ủy ban học thuật của Quỹ Vatican Joseph Ratzinger – Bênêđíctô XVI.
Ngài ca ngợi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, nhưng lại cảm thấy không thoải mái lắm trong suốt triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Ngài cho rằng những lời chỉ trích của mình không xuất phát từ chủ nghĩa bảo thủ mà từ mối lo ngại rằng một số tín hữu có thể khó hiểu được hướng đi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đối với Giáo hội. Sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời vào tháng 4 năm 2025, Hồng Y Ruini đã đưa ra bốn điều kiện mà theo ngài, vị Giáo hoàng mới cần phải có: giáo lý đúng đắn, năng lực lãnh đạo, tinh thần hiệp thông và củng cố đức tin. Nhiều người quan sát nhận thấy trong những tiêu chuẩn này là một sự chỉ trích ngầm đối với triều Giáo Hoàng vừa kết thúc.
Đức Hồng Y tiếp tục lên tiếng công khai cho đến những ngày cuối đời. Trong một trong những cuộc phỏng vấn cuối cùng với tờ Corriere della Sera nhân dịp sinh nhật lần thứ 95 vào tháng Hai, Hồng Y Ruini cho biết ngài không tán thành việc Đức Bênêđíctô XVI từ chức, ca ngợi Đức Phanxicô vì “lòng dũng cảm tuyệt vời” nhưng chỉ trích ngài vì “quá ít coi trọng truyền thống”, và nói rằng ấn tượng đầu tiên của ngài về Đức Giáo Hoàng Lêô XIV là rất tốt. Ngài có quan điểm tiêu cực về Tổng thống Trump, nói rằng ông ta đã “làm đảo lộn chính trị Mỹ và thế giới”, và đang “đi theo một hướng rất đáng ngờ”. Ngài cũng không ủng hộ việc khôi phục Thánh lễ Latinh truyền thống, nói rằng “điều rất quan trọng là mọi người phải hiểu ngôn ngữ mà họ cử hành thánh lễ”.
Đức Hồng Y qua đời sau khi mắc bệnh tim ở những năm cuối đời, nhưng ngài đã trải qua những tháng cuối cùng với sự thanh thản. Theo tờ Corriere della Sera, ngài thường xuyên nói và viết về cái chết, chấp nhận sự ra đi của mình với “thái độ thờ ơ và thậm chí là vui vẻ”, và tiếp tục cử hành Thánh lễ cho đến ngay trước khi qua đời.
Trong bài điếu văn tưởng nhớ vị Hồng Y quá cố được đăng ngày 17 tháng 6, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói rằng tin tức về sự ra đi của Đức Hồng Y đã khơi dậy trong lòng ngài “những cảm xúc gần gũi sâu sắc, cùng với lòng biết ơn đối với Chúa vì món quà là người đàn ông đáng kính này của Giáo hội, người đã sống trọn vẹn sứ vụ của mình một cách quảng đại”. Ngài nhắc lại di sản của vị Hồng Y đối với Giáo hội Ý, nhớ về ngài như một “người anh em giàu kinh nghiệm và khôn ngoan, được củng cố bởi đức tin sâu sắc, trí tuệ sắc bén và tầm nhìn xa trông rộng”, và người “phục vụ Tin Mừng và Giáo hội với sự thận trọng và hy sinh quên mình”.
Những lời tri ân chân thành tương tự cũng được gửi đến từ hàng giáo sĩ và các chính trị gia: Cựu thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Hồng Y Stanislaw Dziwisz, cho biết Hồng Y Ruini “luôn tìm kiếm điều tốt đẹp cho Giáo hội, với đức tin rõ ràng, lòng trung thành với Giáo huấn của Giáo hội, và một ý thức sâu sắc về bổn phận và trách nhiệm mục vụ”. Ngài bày tỏ lòng biết ơn đối với sự cộng tác của Hồng Y Ruini với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong những “thời điểm quyết định” trong đời sống của Giáo hội.
Đức Hồng Y Baldassare Reina, Tổng Đại Diện Giáo phận Rôma hiện tại, đã bày tỏ lòng biết ơn về “cuộc đời Kitô giáo lâu dài và hiệu quả cũng như sự phục vụ của ngài đối với Giáo hội” của Đức Hồng Y Ruini, và Đức Hồng Y Matteo Zuppi, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý, cho biết Đức Hồng Y đã giúp Giáo hội tại Ý “suy nghĩ, phân định, nói và hành động theo thời đại của riêng mình”. Khẩu hiệu giám mục của Đức Hồng Y Ruini — Veritas liberabit nos (Chân lý giải phóng chúng ta) — “vẫn là lời kêu gọi dành cho tất cả mọi người”, ngài nói. Thủ tướng Ý, Giorgia Meloni, mô tả ngài là một “người vĩ đại của Giáo hội”, trong khi Romano Prodi nhớ lại “mối liên hệ sâu sắc” với Đức Hồng Y Ruini, người mà khi còn là một thanh niên ở Reggio Emilia, đã hướng dẫn ngài và những thanh niên khác trong giáo phận.
Elisabetta Valgiusti, một công dân Rôma quen biết Hồng Y Ruini, đã ca ngợi ngài là một “nhân vật hàng đầu trong đời sống của Giáo Hội Công Giáo ở mọi cấp độ, và trong các cuộc tranh luận công khai nói chung”. Bà đặc biệt khen ngợi ngài về sự am hiểu văn hóa, mà theo bà, ngài coi là “điểm giao thoa giữa sứ mệnh của Giáo hội và những nhu cầu cấp thiết nhất của quốc gia”.
Valgiusti, một nhà làm phim tài liệu của EWTN, người sáng lập tổ chức Save the Monasteries nhằm giúp đỡ các cộng đồng Kitô giáo thông qua các dự án văn hóa và truyền thông, đã nói với tờ Register rằng bà nhớ những cuộc trò chuyện với ngài “với lòng biết ơn và sự kính trọng”, đặc biệt là trong thời kỳ đại dịch. Bà nói: “Chúng tôi sẽ nhớ giọng nói mạnh mẽ và chính trực của ngài, cũng như ánh mắt sắc bén của ngài”.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ cử hành lễ tang cho Hồng Y Ruini tại Bàn thờ Ngai vàng trong Đền Thờ Thánh Phêrô vào chiều thứ Năm, ngày 18 tháng 6, cùng với các Hồng Y, Đức Tổng Giám Mục và giám mục.
Source:National Catholic Register
Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “The SSPX Leadership Against Scripture and Tradition”, nghĩa là “Lãnh đạo SSPX chống lại Kinh thánh và Truyền thống”.
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Người ta có thể, và thực sự nên, hy vọng rằng điều đó sẽ không xảy ra. Nhưng ngay cả khi SSPX dừng lại vào phút cuối và không thực hiện các hành vi ly khai chính thức, vấn đề nghiêm trọng do SSPX gây ra vẫn sẽ tiếp diễn.
Điều đó đã được thể hiện khá rõ ràng trong “Tuyên ngôn Đức tin Công Giáo gửi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV” ngày 14 tháng 5, trong đó ban lãnh đạo SSPX tuyên bố, dù cố ý hay không, rằng họ không chia sẻ đức tin của Giáo Hội Công Giáo.
Hãy xem câu đầu tiên của Tuyên ngôn, trong đó SSPX tuyên bố rằng “Chúa Giêsu Kitô… đã làm cho Giao ước Cũ hoàn toàn vô hiệu”. Điều đó hẳn đã làm Thánh Phaolô kinh ngạc, người đang vật lộn với câu hỏi phức tạp về mối quan hệ giữa sự tuyển chọn của Israel và Giao ước Mới bao gồm cả dân ngoại vào kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, đã viết, dưới sự soi dẫn của Thiên Chúa, “Họ là người Israel, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa” (Rm 9:4). Không phải “đã từng được nhận làm con”, mà là “được nhận làm con”.
Hai chương sau, Thánh Phaolô khẳng định rằng “theo ơn tuyển chọn, họ là những người được yêu thương, và đó là nhờ các tổ phụ. Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý.”(Rm 11:28-29). Thiên Chúa không hối tiếc về những lời hứa của Ngài, và Cựu Ước và Tân Ước tạo thành một thể thống nhất, như Giáo Hội đã liên tục khẳng định trong hai thiên niên kỷ. Tuyên bố của SSPX phủ nhận điều này.
Bản Tuyên ngôn tiếp tục khẳng định rằng “mọi người phải là thành viên của Giáo Hội Công Giáo mới có thể cứu rỗi linh hồn mình, và chỉ có một phép rửa duy nhất là phương tiện để được gia nhập vào Giáo hội. Điều cần thiết này liên quan đến toàn thể nhân loại không ngoại lệ và bao gồm không phân biệt người Kitô hữu, người Do Thái, người Hồi giáo, người ngoại đạo và người vô thần.” Như vậy, địa ngục của SSPX khá đông đúc, và bao gồm cả bạn bè và người thân theo đạo Luther, Anh giáo, Do Thái, Hồi giáo và những người không tin vào Chúa của bạn.
Tuy nhiên, đây chính xác là sự xuyên tạc cực đoan của châm ngôn cổ xưa extra ecclesiam nulla salus (không có ơn cứu rỗi nào ngoài Giáo hội) mà vì đó Cha Leonard Feeney đã bị vạ tuyệt thông vào năm 1953, cơ sở thần học cho hình phạt đó được đặt ra bởi một tuyên bố năm 1949 của Tòa Thánh được Đức Giáo Hoàng Piô XII phê chuẩn.
Trớ trêu thay, Tuyên ngôn của SSPX khẳng định rằng “việc phủ nhận dù chỉ một chân lý của Đức Tin cũng sẽ hủy hoại chính đức tin và khiến cho mọi sự hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo trở nên hoàn toàn bất khả thi”. Tuy nhiên, đó chính xác là điều mà SSPX đang làm khi tuyên bố những lời hứa của Chúa dành cho dân tộc Do Thái là “hoàn toàn vô hiệu” và bằng cách đưa ra cách giải thích cực đoan nhất có thể cho cụm từ extra ecclesiam nulla salus (ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ). Như vậy, SSPX mâu thuẫn với giáo huấn của những bậc vĩ nhân như Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinas, những lời lên án của Giáo hoàng đối với chủ nghĩa Jansen, và giáo huấn của Chân phước Piô IX trong Quanto Conficiamur Moerore (Quanto Conficiamur Moerore) về sự sẵn có của ân sủng ngoài các bí tích.
Từ lâu đã rõ ràng rằng nguồn gốc của phong trào do Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre khởi xướng, và vẫn tiếp tục đến ngày nay trong SSPX, không chỉ đơn thuần là việc Đức Tổng Giám Mục bác bỏ phụng vụ hậu Công đồng Vatican II, mà còn là sự bác bỏ giáo huấn của Công đồng Vatican II về Giáo hội, ơn cứu độ, tự do tôn giáo, quan hệ giữa Giáo hội và nhà nước, và mối quan hệ của Giáo hội với các tôn giáo khác. Trong bối cảnh này, cần nhớ rằng Đức Tổng Giám Mục Lefebvre là người ủng hộ Thống chế Henri Petain và chế độ Vichy cộng tác với Đức Quốc xã ở Pháp trong Thế chiến II: một chế độ bác bỏ hoàn toàn chủ nghĩa hiện đại. Những yếu tố của chế độ Vichy cuối cùng đã dẫn đến chủ nghĩa bài Do Thái nguy hiểm, một phần bắt nguồn từ việc bác bỏ đoạn Rôma 9-11 mà Tuyên ngôn của SSPX cũng bác bỏ. Việc nhắc lại dù chỉ là một chút dư âm của lịch sử tồi tệ đó giữa những hành vi bài Do Thái trắng trợn ngày nay, nói một cách nhẹ nhàng, là vô cùng thiển cận.
Vào tháng Năm, một nhà sử học nổi tiếng người Ý đã nhận xét, liên quan đến các lễ tấn phong giám mục mà SSPX dự định thực hiện và các vụ vạ tuyệt thông sẽ tự động diễn ra sau đó, rằng “những gì sắp xảy ra vào tháng Bảy sẽ không phải là việc xây dựng một cây cầu mà là việc tạo ra một vực sâu mới giữa Giáo hội và Tòa Thánh”. Điều đó hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều đó chỉ xảy ra nếu hơn 700 linh mục, hơn 200 chủng sinh và hàng trăm ngàn giáo dân tham gia SSPX tiếp tục chấp nhận, một cách cuồng tín, sự dị giáo của giới lãnh đạo SSPX, những người tự nhận mình là những người Công Giáo chân chính duy nhất, điều này sẽ phá vỡ những cây cầu Giáo hội và tạo ra bất kỳ vực sâu đáng buồn nào sau đó. Những người tìm kiếm sự nuôi dưỡng tâm linh trong các trung tâm Thánh lễ của SSPX xứng đáng được đối xử tốt hơn thế.
Source:National Catholic Register
Trong bức điện chia buồn hôm thứ Tư, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tưởng nhớ Đức Hồng Y Ruini như một “người anh em giàu kinh nghiệm và khôn ngoan, được đặc trưng bởi đức tin sâu sắc, trí tuệ sắc bén và tầm nhìn xa, người đã phục vụ Tin Mừng và Giáo hội với sự kín đáo và lòng hy sinh”.
Đức Lêô đặc biệt nhớ đến “những đóng góp hiệu quả của Ruini cho Hội Đồng Giám Mục Ý”, nơi ngài giữ chức chủ tịch trong gần hai thập niên, cũng như “sự đối thoại hữu ích của Đức Hồng Y Ruini với giới văn hóa thế giới”.
Đức Giáo Hoàng bày tỏ lòng biết ơn đối Thiên Chúa “vì món quà là người đàn ông đáng kính này của Giáo hội”, và hứa sẽ cầu nguyện cho linh hồn ngài được an nghỉ cũng như an ủi gia đình và những người thân yêu của ngài.
Sự ra đi của Đức Hồng Y Ruini chắc chắn đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên.
Sinh năm 1931 tại Sassuolo thuộc vùng Emilia Romagna của Ý, tuổi thơ và thời niên thiếu của Ruini chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa phát xít và Thế chiến II.
Ngài chưa bao giờ thực sự nghĩ đến điều gì khác ngoài việc phục vụ Giáo hội và được thụ phong linh mục vào ngày 8 tháng 12 năm 1954, khi chỉ còn vài tháng nữa là đến sinh nhật lần thứ 24 của mình.
Vào thời điểm mà Giáo hội vẫn còn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội Ý và việc phục vụ trong giáo hội được xem như một con đường sự nghiệp cũng như một ơn gọi, Ruini nổi bật như một người thực sự yêu mến Giáo hội và mong muốn Giáo hội được thành công.
Ngài cũng vô cùng thông minh, am hiểu văn hóa và có khả năng kết bạn với những người có tư tưởng khác biệt.
Ngài từng là tuyên úy cho sinh viên đại học trong nhiều năm, từ cuối những năm 1950 đến giữa những năm 1960, sau đó là đại biểu của Azione Cattolica – một tổ chức phi chính trị chính thức nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Ý suốt thế kỷ 20 – và đồng thời giữ các vị trí giảng dạy và quản lý tại nhiều cơ sở đào tạo linh mục khác nhau.
Sự nghiệp của ngài có thể vẫn chủ yếu là về học thuật, nhưng Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong ngài làm Giám Mục Phụ Tá vào năm 1983, và danh tiếng của Đức Cha Ruini bắt đầu lên cao.
Ngài trở thành tổng thư ký của Hội đồng Giám mục Ý đầy quyền lực, CEI, vào năm 1986, và sau đó là chủ tịch của CEI vào năm 1991, cùng năm mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Tổng Đại Diện Giáo phận Roma và phong ngài làm Hồng Y Ruini.
Trong gần hai thập niên tiếp theo, từ năm 1991 đến năm 2008, Đức Hồng Y Ruini là một nhân vật chủ chốt trong giới truyền thông Ý, luôn sẵn sàng bình luận cho các bản tin thời sự giờ vàng và xuất hiện trên các chương trình trò chuyện Chúa Nhật, qua đó ngài xây dựng hình tượng “chiến binh vui vẻ”.
Nhìn chung được coi là một người bảo thủ về mặt xã hội, Đức Hồng Y Ruini lại khá am hiểu những dòng chảy văn hóa thúc đẩy xu hướng thế tục hóa rộng rãi ở phương Tây và tìm cách huy động sức mạnh thể chế của Giáo hội theo cách phù hợp với thực tế văn hóa và chính trị.
Năm 2005, ngài dẫn đầu phe đối lập chính thức của các giám mục Ý đối với một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc nhằm nới lỏng luật pháp Ý về thụ tinh nhân tạo và nghiên cứu tế bào gốc phôi thai.
Đức Hồng Y Ruini kêu gọi người Công Giáo không tham gia bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý, vì ngài dự đoán rằng việc người Công Giáo không tham gia sẽ ngăn cản việc đạt được số lượng cử tri cần thiết – 50% số cử tri đủ điều kiện tham gia – và do đó làm vô hiệu hóa cuộc trưng cầu dân ý.
Những người ủng hộ cuộc trưng cầu dân ý cáo buộc Đức Hồng Y Ruini và các giám mục can thiệp không đúng mực vào lĩnh vực chính trị, nhưng cử tri đã chọn ở nhà, và cuộc trưng cầu dân ý không thu hút được tỷ lệ tham gia cần thiết là 50%.
Đức Hồng Y Ruini vẫn duy trì hình ảnh trước công chúng trong nhiều năm, ngay cả sau khi đã nghỉ hưu.
Trong khoảng một thập niên trở lại đây, ngài dần giảm hoạt động và rút lui khỏi tầm mắt công chúng, nhưng ngài vẫn luôn quan tâm đến các vấn đề công cộng và nắm bắt được nhịp đập của văn hóa Ý và Âu Châu.
Mỗi khi ngài lên tiếng, ngài đều nói với tư cách một chính khách lão thành, và mọi người đều lắng nghe.
Tháng Hai năm nay, Đức Hồng Y Ruini một lần nữa thu hút sự chú ý của quốc tế khi ngài có cuộc phỏng vấn với tờ báo hàng đầu của Ý, Corriere della Sera, nghĩa là Tin Chiều trong đó ngài thảo luận về nhiều vấn đề khác nhau.
Trong cuộc phỏng vấn, Ruini đã công khai thừa nhận những điều mà các Hồng Y và quan chức giáo triều trước đây chủ yếu chỉ thì thầm với nhau.
Ví dụ, ngài đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm về việc Đức Bênêđíctô XVI từ chức, mà ngài cho đó là một sai lầm.
Đức Hồng Y Ruini cũng thừa nhận mình cảm thấy bối rối trước Đức Thánh Cha Phanxicô và không chắc liệu triều đại của vị giáo hoàng quá cố người Á Căn Đình sẽ gây hại hay có lợi cho Giáo Hội.
Đức Hồng Y Ruini bày tỏ quan điểm của mình một cách thẳng thắn – với sức mạnh và sự rõ ràng nhưng cũng rất cẩn trọng. Những lời nhận xét của ngài được cân nhắc kỹ lưỡng, thậm chí thận trọng, nhưng không hề gây hiểu lầm về suy nghĩ hay lập trường của ngài.
Theo một nghĩa rất quan trọng, đó là hành động phục vụ giáo hội cuối cùng của ngài: Để cho thấy làm thế nào có thể thực hành parrhesia – nói chuyện thẳng thắn – mà không cần tham gia vào tranh luận.
Nói cách khác, Đức Hồng Y Ruini có thể không chỉ đơn thuần là một di tích của một thời đại đã qua, thời mà Giáo hội nắm giữ vị thế văn hóa và tầm ảnh hưởng chính trị.
Ngài ấy có thể là một hình mẫu cho các giáo sĩ trong thế kỷ XXI ngày càng phân cực.
Source:Crux
Đây là những gì nghiên cứu mới của Gallup năm 2026 nói về sự suy giảm ủng hộ hôn nhân đồng tính. Các số liệu cho thấy một quốc gia không từ bỏ sự ủng hộ đối với quyền LGBTQ nhưng đang đánh giá lại một số giả định đã chi phối diễn ngôn công chúng trong những năm đầu thập niên 2020.
Jorge Enrique Mújica của hãng tin Zenit, ấn bản tiếng Anh, ngày 17 tháng 6 năm 2026, cho biết: Trong phần lớn 25 năm qua, quỹ đạo dư luận Mỹ về các vấn đề LGBTQ dường như rất nhất quán. Sự ủng hộ hôn nhân đồng tính tăng đều đặn, sự chấp nhận về văn hóa được mở rộng, và sự phản đối dường như ngày càng bị giới hạn trong các bộ phận nhỏ hơn của xã hội. Tuy nhiên, dữ liệu thăm dò mới cho thấy rằng giai đoạn dài chuyển động theo một hướng này có thể đang nhường chỗ cho một bức tranh phức tạp và gây tranh cãi hơn.
Theo khảo sát Giá trị và Niềm tin năm 2026 của Gallup, sự ủng hộ đối với hôn nhân đồng tính hợp pháp vẫn là quan điểm chiếm đa số tại Hoa Kỳ, nhưng đã giảm đáng kể so với mức cao nhất gần đây. Hiện nay, 65% người Mỹ ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng tính hợp pháp, giảm so với 71% vào năm 2022 và 2023. Mặc dù vẫn cao hơn đáng kể so với mức 27% được ghi nhận vào năm 1996, xu hướng này cho thấy sự suy giảm khiêm tốn nhưng liên tục trong vài năm qua.
Một mô hình tương tự xuất hiện liên quan đến đánh giá đạo đức. 62% người Mỹ hiện nay mô tả các mối quan hệ đồng tính là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức, con số thấp nhất được ghi nhận kể từ năm 2016. Thậm chí đáng chú ý hơn là sự thay đổi về các vấn đề chuyển đổi giới tính. Khi Gallup lần đầu tiên hỏi người Mỹ về tính chấp nhận được về mặt đạo đức của việc thay đổi giới tính vào năm 2021, 46% cho rằng điều đó có thể chấp nhận được. Con số đó hiện đã giảm xuống còn 38%, trong khi 57% coi đó là sai trái về mặt đạo đức.

Các số liệu cho thấy một quốc gia không từ bỏ việc ủng hộ quyền LGBTQ mà đang xem xét lại một số giả định đã chi phối diễn ngôn công chúng trong những năm đầu thập niên 2020. Thay vì một sự đảo ngược hoàn toàn, dữ liệu cho thấy sự do dự ngày càng tăng, đặc biệt là về các vấn đề liên quan đến bản dạng phái tính.
Sự chia rẽ chính trị đằng sau sự thay đổi này là không thể bỏ qua. Kết quả khảo sát của Gallup chỉ ra rằng phần lớn sự sụt giảm ủng hộ gần đây xảy ra trong số các đảng viên Cộng hòa. Chỉ vài năm trước, đa số cử tri Cộng hòa ủng hộ hôn nhân đồng tính. Năm 2021 và 2022, tỷ lệ ủng hộ đạt 55%; hiện nay con số này là 37%. Tương tự, tỷ lệ đảng viên Cộng hòa coi mối quan hệ đồng tính là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức đã giảm từ 56% xuống 35% kể từ năm 2022.
Ngược lại, đảng viên Dân chủ hầu như không thay đổi. Tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng tính trong số cử tri Dân chủ là 87%, trong khi 81% coi mối quan hệ đồng tính là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức. Những người độc lập nằm ở vị trí trung gian, mặc dù ngay cả trong số họ, sự ủng hộ cũng đã giảm bớt phần nào trong những năm gần đây.
Cuộc tranh luận trở nên phân cực hơn nữa khi xem xét đến vấn đề chuyển đổi giới tính. Chỉ 5% người Cộng hòa hiện nay cho rằng chuyển đổi giới tính là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức, so với 42% người độc lập và 60% người Dân chủ.
Những con số này cho thấy các vấn đề xoay quanh bản dạng phái tính đã trở thành một trong những điểm chia rẽ gay gắt nhất trong văn hóa Mỹ đương thời.
Tuy nhiên, trong khi thái độ đối với một số vấn đề LGBTQ đã nguội lạnh, một xu hướng khác lại tiếp tục theo chiều ngược lại. Gallup ước tính rằng 9% người trưởng thành ở Mỹ hiện nay tự nhận mình là LGBTQ, gấp hơn hai lần so với con số 3.5% được ghi nhận vào năm 2012. Con số này vẫn tương đối ổn định trong hai năm qua sau một thời kỳ tăng trưởng nhanh chóng.
Câu chuyện nhân khẩu học đằng sau sự gia tăng đó đặc biệt đáng chú ý. Gần một phần tư người Mỹ dưới 30 tuổi—23%—tự nhận mình là LGBTQ, so với 10% ở độ tuổi 30 đến 49, 3% ở độ tuổi 50 đến 64 và chỉ 2% ở người cao tuổi. Phụ nữ cũng có khả năng tự nhận mình là LGBTQ cao hơn đáng kể so với nam giới, với tỷ lệ lần lượt là 10.5% và 5.6%.
Hầu hết người Mỹ tự nhận mình là LGBTQ không tự nhận mình là người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ. Thay vào đó, gần sáu trong mười người tự nhận mình là người song tính, khiến song tính trở thành nhóm lớn nhất trong cộng đồng LGBTQ. Khoảng 1,1% người Mỹ tự nhận mình là người chuyển giới.

Những diễn biến có vẻ mâu thuẫn này—cộng đồng LGBTQ ngày càng tăng cùng với sự ủng hộ giảm sút đối với một số quan điểm liên quan đến LGBTQ—làm nổi bật một thực tế thường bị bỏ qua trong các bài diễn thuyết chính trị. Bản sắc và chính sách công không phải là một. Người Mỹ có thể ngày càng biết đến các thành viên gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc hàng xóm tự nhận mình là LGBTQ trong khi đồng thời bày tỏ sự dè dặt về các vấn đề văn hóa, giáo dục, y tế hoặc pháp lý cụ thể.
Các nhà quan sát trên khắp phổ chính trị đưa ra những lời giải thích trái chiều cho sự thay đổi này. Một số chỉ ra những lo ngại ngày càng tăng về các can thiệp y tế liên quan đến trẻ vị thành niên bị rối loạn nhận dạng phái tính. Những người khác viện dẫn các cuộc tranh luận về thể thao nữ, quyền của cha mẹ trong giáo dục, tự do tôn giáo hoặc vai trò của các sáng kiến đa dạng và hòa nhập trong các tổ chức công cộng. Trong khi đó, những người ủng hộ vận động cho quyền LGBTQ lập luận rằng các chiến dịch chính trị và phản ứng văn hóa tiêu cực gần đây đã góp phần làm nguội lạnh dư luận. Dù nguyên nhân là gì, những phát hiện mới nhất của Gallup cho thấy cuộc tranh luận ở Mỹ đang bước vào một giai đoạn mới.
Sự mở rộng nhanh chóng về sự ủng hộ đặc trưng cho những thập niên đầu của thế kỷ XXI dường như đã chậm lại. Thay vào đó là một cuộc tranh luận phức tạp hơn, trong đó sự chấp nhận rộng rãi đối với người LGBTQ cùng tồn tại với những bất đồng mới về các hàm ý xã hội, đạo đức và chính trị của chương trình nghị sự đang phát triển của phong trào. Đối với các cộng đồng tôn giáo, các nhà hoạch định chính sách, các nhà giáo dục và các nhà hoạt động, thách thức phía trước có thể là học cách giải quyết những bất đồng này mà không biến những người phản đối thành những hình ảnh biếm họa.

Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tạp chí Global Catholic cho đăng tải bài nhận định với tiêu đề như trên của Cha Sparado Dòng Tên, Chủ nhiệm tập san La Civiltà Cattolica. Ngài viết:
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã ký thông điệp đầu tiên của mình. Ngày hôm sau, ngài thành lập một ủy ban liên bộ mới. Cả hai đều liên quan đến cùng một chủ đề: trí tuệ nhân tạo. Sự gần gũi này không phải là ngẫu nhiên. Cùng nhau, hai hành động này tạo nên phản ứng định chế quan trọng nhất đối với trí tuệ nhân tạo của bất cứ tổ chức tôn giáo lớn nào trên thế giới—và có lẽ là tín hiệu rõ ràng nhất cho thấy Vatican dự định làm nhiều hơn là chỉ đưa ra những cảnh báo thận trọng từ bên lề.
Trí tuệ nhân tạo không còn chỉ là một chủ đề để suy nghĩ về đạo đức. Nó là một thực tại hiện đang len lỏi vào đời sống của chính Giáo hội—các hoạt động truyền thông, các cơ sở giáo dục, các quy trình giáo lý, ngoại giao của Giáo hội. Giả vờ ngược lại sẽ là một hình thức phủ nhận. Đức Leo XIV không giả vờ.
Thông điệp Magnifica Humanitas được dành riêng cho việc bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Ngày ban hành mang ý nghĩa biểu tượng: ngày 15 tháng 5 đánh dấu kỷ niệm 135 năm Rerum Novarum, thông điệp quan trọng năm 1891 của Đức Giáo Hoàng Leo XIII về tình trạng của người lao động trong bối cảnh kỹ nghệ hóa.
Sự tương đồng là không thể nhầm lẫn và rõ ràng là có chủ ý. Cũng như Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã nêu bật phẩm giá của lao động trước những xáo trộn của thời đại nhà máy, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã nêu bật phẩm giá của con người trước những xáo trộn của thời đại thuật toán. Ngay cả tên gọi của Đức Giáo Hoàng, trong bối cảnh này, cũng mang ý nghĩa về sự tiếp nối – một khẳng định rằng truyền thống xã hội Công Giáo có điều gì đó cấp thiết cần nói về những cỗ máy biết học hỏi.
Nhưng Đức Leo XIV không bắt đầu từ con số không, và điều này rất quan trọng. Vào tháng 1 năm 2025, Bộ Giáo lý Đức tin và Bộ Văn hóa và Giáo dục đã cùng nhau xuất bản Antiqua et Nova, một ghi chú giáo lý quan trọng về mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người, do chính Giáo hoàng Phanxicô ủy nhiệm. Được cấu trúc thành 117 đoạn, văn kiện này đã làm được điều mà các tuyên bố trước đây của Vatican về kỹ thuật chưa thực sự làm được: nó đã vạch ra một ranh giới triết học rõ ràng giữa những gì máy móc làm và những gì trí tuệ con người là.
Ghi chú Antiqua et Nova khẳng định rằng trí tuệ, theo nghĩa đầy đủ nhất, bao gồm sự cởi mở về mặt đạo đức và tâm linh đối với chân lý—lương tâm, trách nhiệm, một linh hồn—và rằng không có thuật toán nào, dù tinh vi đến đâu, có thể thay thế cho sự phân định của con người. Nó cũng xem xét tác động cụ thể của trí tuệ nhân tạo trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe, lao động, quan hệ xã hội và chiến tranh, cảnh báo chống lại các hệ thống vũ khí tự động gây chết người. Văn kiện này viện dẫn nguyên tắc phụ đới trong quản trị trí tuệ nhân tạo và kêu gọi phi tập hóa việc ra quyết định có tính qui định trên nhiều bình diện của xã hội.
Nếu Magnifica Humanitas nâng những lập luận này lên cấp độ giáo huấn đầy đủ của Giáo hoàng, như các báo cáo ban đầu cho thấy, thì Antiqua et Nova sẽ được hiểu trong hồi tưởng như là nền tảng trí tuệ của nó—văn kiện chuẩn bị đã tạo điều kiện cho thông điệp này ra đời.
Rescriptum ex Audientia [phúc nghị từ cuộc hội kiến], được ban hành một ngày sau khi thông điệp của Đức Giáo Hoàng được ký kết, đã thành lập Ủy ban về Trí tuệ Nhân tạo, tập hợp bảy định chế của Vatican dưới sự điều phối luân phiên hàng năm, bắt đầu với Bộ Phát triển Toàn diện Con người, do Hồng Y Michael Czerny đứng đầu.
Ủy ban này bao gồm Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ Văn hóa và Giáo dục, Bộ Truyền thông, Học viện Giáo hoàng về Sự sống, và cả hai Học viện Giáo hoàng về Khoa học và Khoa học Xã hội. Thành phần của ủy ban này là một bản đồ cho thấy cách mà Giáo hội Rô-ma hiện nay hiểu về vấn đề này.
Trí tuệ nhân tạo tác động đến đức tin và lý trí, sự đào tạo và thông tin, khoa học và lương tâm. Nó không thể bị giới hạn trong một lĩnh vực duy nhất. Việc đưa các cơ quan khác nhau như vậy đến cùng một bàn thảo luận chính là sự thừa nhận rằng không có một năng lực nào đủ để nắm bắt toàn bộ phạm vi của hiện tượng này—và rằng Giáo hội, nếu thực sự nghiêm túc, phải suy nghĩ vượt ra ngoài ranh giới định chế của chính mình.
Cấu trúc định chế có vẻ xa vời, nhưng thiết kế của ủy ban này đáng để xem xét kỹ lưỡng, bởi vì nó phản ánh một mô hình quản trị Vatican thực sự mới—một mô hình chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc cải cách Giáo triều của Đức Giáo Hoàng Phanxicô thông qua tông hiến Praedicate Evangelium và lời kêu gọi hợp tác liên bộ.
Việc luân phiên lãnh đạo đặc biệt nổi bật. Mỗi năm, một định chế khác nhau đảm nhận vai trò điều phối, do Đức Giáo Hoàng chỉ định. Đây không phải là một kim tự tháp; nó giống một mạng lưới hơn. Sự oái oăm này rất phù hợp: hình thức tổ chức phản ánh kỹ thuật mà nó có ý định giải quyết.
Điều đáng chú ý hơn nữa là ngôn ngữ trong nhiệm vụ của ủy ban, nói về “đối thoại, hiệp thông và tham gia”—từ vựng của tính đồng nghị. Vatican đang đề xuất giải quyết vấn đề kỹ thuật bằng cùng một phương pháp mà họ đã sử dụng cho vấn đề giáo hội học: không phải bằng sắc lệnh. Từ trên cao, nhưng thông qua một quá trình phân định chung. Liệu khát vọng đó có tồn tại khi tiếp xúc với thực tiễn hành chính hay không, dĩ nhiên, lại là một vấn đề khác. Nhưng ý định thì đáng chú ý.
Buổi trình bày công khai thông điệp của Đức Giáo Hoàng, dự kiến diễn ra vào ngày 25 tháng 5 tại Hội trường Thượng Hội đồng, mang đến một thông điệp riêng. Danh sách diễn giả được sắp xếp cẩn thận. Hồng Y Víctor Manuel Fernández và Hồng Y Michael Czerny lần lượt đại diện cho hai cực giáo lý và xã hội trong tư tưởng Công Giáo. Bên cạnh họ là ba nhân vật đại diện cho những hướng tiếp cận cởi mở có chủ đích.
Anna Rowlands, nhà thần học chính trị đến từ Durham, mang đến truyền thống tư tưởng xã hội Công Giáo của Anh và sự gắn bó sâu sắc với vấn đề di cư. Leocadie Lushombo, một nhà thần học người Congo tại Trường Thần học Dòng Tên ở Santa Clara, California, mang tiếng nói của khu vực Nam bán cầu - một lời nhắc nhở rằng tác động của trí tuệ nhân tạo sẽ ảnh hưởng nặng nề nhất đến những người có ít quyền lực nhất để định hình nó. Và sau đó là Christopher Olah.
Olah là người đồng sáng lập Anthropic, một công ty trí tuệ nhân tạo của Mỹ, và dẫn đầu nghiên cứu về khả năng giải thích – nỗ lực làm cho quá trình ra quyết định nội bộ của các hệ thống trí tuệ nhân tạo trở nên minh bạch và dễ hiểu. Sự hiện diện của ông tại Hội trường Thượng Hội đồng là chi tiết đáng chú ý nhất của toàn bộ biến cố.
Tòa Thánh Vatican không chỉ đơn thuần thảo luận với các nhà thần học về kỹ thuật. Tòa Thánh đang mời một người xây dựng các hệ thống này tham gia, và đặc biệt là một người có công việc chuyên tâm vào việc làm cho chúng dễ hiểu. Việc lời bế mạc đến từ Hồng Y Quốc vụ khanh Pietro Parolin và chính Đức Giáo Hoàng càng nhấn mạnh tầm quan trọng về mặt định chế của biến cố này.
Tất cả những điều này không phải là không có gốc gác. Tòa Thánh đã chuẩn bị cho thời điểm này trong nhiều năm. Nhưng cho đến nay, chưa có cơ chế nội bộ nào để phối hợp tư duy của chính Vatican, và chưa có tuyên bố chính thức nào của Giáo hội. Thông điệp Magnifica Humanitas và ủy ban mới đã lấp đầy cả hai khoảng trống này cùng một lúc.
Tuy nhiên, ý nghĩa sâu xa hơn là về mặt thần học. Bằng việc ban hành thông điệp về trí tuệ nhân tạo, Đức Leo XIV đang khẳng định phạm vi mối quan tâm của Giáo hội. Kỹ thuật không phải là vấn đề thế tục mà đức tin có thể an toàn rút lui. Đó là nơi mà câu hỏi về ý nghĩa của việc làm người đang được quyết định – hàng ngày, cụ thể và thường không cần nhiều bàn cãi.
Phúc nghị nói về “những tác động tiềm tàng của AI đối với con người và toàn thể nhân loại”. Đó không phải là lời nói sáo rỗng. Đó là sự thừa nhận rằng trí tuệ nhân tạo đặt ra những câu hỏi về ý thức, tự do, mối quan hệ và sự sáng tạo – tất cả những gì truyền thống Kitô giáo tập hợp dưới khái niệm hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei). Và tiêu đề của thông điệp – Magnifica Humanitas – cho thấy rằng phản ứng của Giáo hội sẽ là sự khẳng định hơn là nỗi sợ hãi: không phải là chứng sợ kỹ thuật, mà là cam kết tôn vinh những gì đặc biệt thuộc về con người.
Tất cả điều này nghe có vẻ đầy hứa hẹn, thậm chí là khích lệ. Nhưng thử thách thực sự, như mọi khi, sẽ nằm ở khâu thực thi. Liệu ủy ban có nghiêm túc xem xét thực tế vật chất của thuật toán, dữ liệu và mô hình, hay sẽ chỉ dừng lại ở bình diện nguyên tắc? Liệu nó có bao gồm tiếng nói từ bên ngoài Vatican – từ ngành kỹ nghệ, xã hội dân sự, giới học thuật?
Việc lựa chọn diễn giả cho bài thuyết trình cho thấy những trực giác đúng đắn. Nhưng bất cứ ai đã chứng kiến Giáo hội vật lộn với những vấn đề phức tạp hiện đại đều biết rằng trực giác và cấu trúc không phải lúc nào cũng mang lại kết quả. Nguy hiểm nằm ở chỗ một ủy ban về trí tuệ nhân tạo sẽ trở thành một cơ quan giáo triều khác chuyên sản xuất các văn bản về các văn bản.
Sự hiện diện của một nhà nghiên cứu như Olah trong Hội trường Thượng Hội đồng, theo nghĩa này, vừa là một liều thuốc giải độc vừa là một lời hứa. Nó báo hiệu rằng ít nhất một số người ở Rome hiểu rằng bạn không thể nói một cách có ý nghĩa về AI mà không nói về cách thức hoạt động thực tế của nó—về những cách thức cụ thể mà các mô hình ngôn ngữ lớn xử lý thông tin, về những lựa chọn vốn được lồng vào dữ liệu huấn luyện, về tính mờ ám của các hệ thống ngày càng định hình các quyết định tuyển dụng, chẩn đoán y tế và tuyên án hình sự. Giáo huấn xã hội Công Giáo luôn mạnh mẽ nhất khi nó chuyển từ các nguyên tắc chung sang thực tế cụ thể.
Thông điệp Rerum Novarum đã thành công vì Đức Leo XIII sẵn sàng nói về tiền lương và giờ làm việc, chứ không chỉ phẩm giá con người một cách trừu tượng. Ghi chú Antiqua et Nova đã thành công vì nó sẵn sàng gọi tên các vũ khí tự động gây chết người và giám sát thuật toán, chứ không chỉ là “những thách thức kỹ thuật”. Thông điệp Magnifica Humanitas sẽ cần thể hiện sự sẵn lòng tương tự.
Một thông điệp và một ủy ban trong vòng 24 giờ: theo ngôn ngữ thận trọng của Giáo triều Rô-ma, đây là điều thực sự mới mẻ. Và điều mới mẻ luôn tiềm ẩn khả năng gây bất ngờ—kiểu bất ngờ mà Giáo hội, ở thời kỳ tốt đẹp nhất, chưa bao giờ ngại đón nhận.
Một điều gì đó đang khuấy động ở Rome mà chưa có hình dạng ổn định, và đó có thể chính là điểm mấu chốt. Câu hỏi đáng lưu ý nhất không phải là liệu Đức Leo XIV đã làm đủ hay chưa, mà là sự mở cửa này có thể tạo ra những khả năng gì—trong Giáo hội và ngoài Giáo hội.

Tạp chí Global Catholic, ngày 17 tháng 6 năm 2026, cho đăng tải bài viết của Tom Hyland, với tiêu đề như trên. Ông viết:
Thống kê cho thấy một Giáo Hội đang suy giảm. Ít người Úc nói rằng họ là người Công Giáo, và thậm chí ít người hơn nữa tham dự Thánh Lễ — và những người tham dự ngày càng già đi. Tuy nhiên, đồng thời, một số giáo đoàn đang phát triển mạnh, với các giáo dân trẻ hơn, được giáo dục tốt hơn, những người vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Giáo Hội.
Các số liệu thống kê đang kể hai câu chuyện: Công Giáo Úc đồng thời đang thu hẹp theo một nghĩa trong khi được hồi sinh theo một nghĩa khác, phần lớn là do sự di cư, điều đang làm thay đổi diện mạo của quốc gia — và của Giáo Hội.
Tại các thành phố lớn, nơi phần lớn người Úc sinh sống, các giáo đoàn nhà thờ ngày càng bao gồm những người đến từ nhiều nền văn hóa, sắc tộc và quốc tịch khác nhau. Nhiều người sinh ra ở nước ngoài. Họ thờ phượng theo nhiều cách khác nhau, bằng hàng chục ngôn ngữ khác nhau.
Giáo hội Úc ngày càng trở nên đa dạng hơn về tôn giáo.
Điều này đang diễn ra cùng lúc nhiều người Công Giáo lớn tuổi sinh ra ở Úc đã dần xa rời các hoạt động tôn giáo thường xuyên — một sự dịch chuyển thế tục không chỉ giới hạn ở Công Giáo. Ngày càng nhiều người Úc tuyên bố không theo tôn giáo nào, trong khi những người chọn một tôn giáo cho thấy một xã hội đa dạng hơn về tôn giáo.
Cuộc điều tra dân số quốc gia gần nhất, vào năm 2021, cho thấy số lượng người Úc tự nhận mình là Kitô hữu đã giảm hơn một triệu người, mặc dù Kitô giáo vẫn là tôn giáo phổ biến nhất. Và trong khi người Công Giáo vẫn là nhóm tôn giáo lớn nhất, họ đã giảm từ 22.6% tổng dân số năm 2016 xuống còn 20% năm năm sau đó. Sự sụt giảm số lượng đã được làm chậm lại nhờ nhập cư từ các khu vực có số lượng người Công Giáo cao, đặc biệt là Đông Nam Á. Trong số tất cả những người nhập cư đến Úc từ năm 2016 đến năm 2021, gần 200,000 người cho biết họ là người Công Giáo, hơn một phần tư trong số đó sinh ra ở Philippines.
Các nghi lễ đa dạng
Dựa trên dữ liệu điều tra dân số, Trung tâm Nghiên cứu Mục vụ Quốc gia, một cơ quan của Hội đồng Giám mục Công Giáo Úc, đã lập ra một hồ sơ xã hội chi tiết về Giáo hội Úc.
Trong số khoảng năm triệu người Úc tự nhận mình là người Công Giáo vào năm 2021, 1.4 triệu người - 21% - sinh ra ở nước ngoài, và gần một phần năm đến từ các quốc gia không nói tiếng Anh (các quốc gia nói tiếng Anh được định nghĩa là New Zealand, Vương quốc Anh, Ireland, Hoa Kỳ, Canada và Nam Phi).
Nhóm người Công Giáo “mới” lớn nhất là người Philippines, hiện chiếm 4.3% tổng số người Công Giáo Úc. Những người khác đến từ Ấn Độ, Việt Nam, Iraq, Lebanon, Sri Lanka và Nam Mỹ. Nhiều người theo các nghi lễ đa dạng. Trong khi phần lớn người Công Giáo Úc được xếp vào nhóm “Công Giáo phương Tây” và theo nghi lễ La-tinh, thì số lượng người Công Giáo Maronite, Melkite, Chaldean và Syro-Malabar đang ngày càng tăng.
Đây không phải là lần đầu tiên có sự thay đổi trong thành phần các giáo đoàn ở Úc.
Trong phần lớn thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Giáo hội Úc phản ánh mạnh mẽ nguồn gốc Ái Nhĩ Lan của mình — những người Công Giáo đầu tiên chủ yếu là tù nhân người Ireland, bị đưa đến khi Anh lần đầu tiên xâm chiếm lục địa Úc vào năm 1788. Những người Ái Nhĩ Lan khác, cả tù nhân và người tự do, được các giáo sĩ người Ái Nhĩ Lan hỗ trợ, đến sau đó.
Sự thống trị của văn hóa Ái Nhĩ Lan này bắt đầu thay đổi sau Thế chiến thứ hai, khi Úc bắt đầu một chương trình nhập cư lớn, chuyển từ việc dựa vào người di cư Anh và Ái Nhĩ Lan sang một lượng lớn người từ lục địa châu Âu.
Theo một cuốn lịch sử chính thức của Giáo hội, hơn một triệu người Công Giáo đã đến Úc từ Ý, Malta, Hà Lan, Đức, Croatia, Hungary và các nơi khác trong ba thập niên sau chiến tranh. Họ mang theo “những khát vọng, kỳ vọng, nhu cầu và mô hình tham gia khác biệt so với những người Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan”.
Giáo hội đã chào đón họ. Năm 1950, các giám mục Úc đã ban hành một Thư Mục vụ kêu gọi người Công Giáo đón nhận những người định cư mới như một cơ hội để “truyền bá Vương quốc của Chúa Kitô trên lục địa này”.
“Đối với hàng ngàn người Công Giáo mới, đang tìm kiếm nhà cửa và nơi nương náu trên đất nước chúng ta, bàn tay chào đón của những người Công Giáo đồng đạo và anh em trong Chúa Kitô phải được sẵn sàng dang rộng”, các giám mục nói. “Sự kiên nhẫn, lòng tốt, sự cảm thông và sự giúp đỡ thiết thực phải được dành cho tất cả mọi người không ngừng nghỉ và nhân danh Chúa”.
Sự hóa già tiếp diễn
Úc sẽ tổ chức một cuộc điều tra dân số khác vào tháng 8 năm nay, nhưng Tiến sĩ Trudy Dantis, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mục vụ Quốc gia của Giáo hội, không kỳ vọng nó sẽ cho thấy sự thay đổi đáng kể về tỷ lệ người Công Giáo trong dân số.
“Về lâu dài, các xu hướng cho thấy sự già hóa tiếp diễn của dân số Công Giáo”, bà nói, “cùng với sự tăng trưởng trong số lượng người Công Giáo sinh ra ở các quốc gia không nói tiếng Anh.”
Cuộc điều tra dân số chỉ ghi lại tôn giáo của những người tự nguyện khai báo. Nó không ghi lại việc mọi người có thực hành tôn giáo của họ hay không.
Nhiệm vụ tính toán số lượng người Công Giáo thực hành được thực hiện bởi nhóm của Tiến sĩ Dantis, nhóm này đã khảo sát hơn 1,250 giáo xứ trên khắp đất nước vào đầu năm nay, với việc thu thập dữ liệu dự kiến sẽ hoàn tất vào đầu tháng 7.
Cuộc khảo sát gần đây nhất vào năm 2021 đã xác nhận khoảng cách lớn giữa những người Úc nói rằng họ là người Công Giáo và những người đi nhà thờ. Hầu hết không đi.
Cuộc khảo sát cho thấy khoảng 417,000 người tham dự Thánh lễ - chỉ chiếm 8.2% dân số Công Giáo. Điều này chỉ một phần là do các hạn chế của chính phủ đối với các cuộc tụ họp công cộng trong đại dịch COVID-19, và nó theo sau một xu hướng giảm trong những năm trước đó, với số liệu tham dự bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về nhân khẩu học, độ tuổi của người đi lễ - và “sự hiện diện hoặc vắng mặt của người nhập cư.”
Tác động của người nhập cư rất rõ rệt.
Trong khi số người tham dự Thánh lễ giảm khoảng 206,000 người từ năm 2016 đến năm 2021, con số này lại tăng lên ở các giáo phận Đông phương.
“Trong số đó, Giáo phận Syro-Malabar có mức tăng lớn nhất: 90% từ 4,390 người năm 2016 lên 8,352 người năm 2021,” cuộc khảo sát cho thấy. Con số này phản ánh sự gia tăng di cư đến Úc từ Ấn Độ. Dữ liệu chính thức được Cục Thống kê Úc công bố gần đây cho thấy, lần đầu tiên, những người sinh ra ở Ấn Độ là nhóm cư dân sinh ra ở nước ngoài lớn nhất.
Năm 2021, tất cả các giáo phận Đông phương, ngoại trừ giáo phận Ukraine, đều cho thấy sự gia tăng, với tỷ lệ tham dự Thánh lễ ở giáo phận Syro-Malabar tăng từ 52.6% năm 2016 lên 81% năm 2021.
Việc người nhập cư tham dự Thánh lễ không chỉ giới hạn ở các nhà thờ nghi lễ Đông phương. Tổng giáo phận Sydney, với một trong những tỷ lệ tham dự cao nhất ở Năm 2021, cũng có tỷ lệ cao nhất trong số các giáo phận có tín hữu Công Giáo sinh ra ở các quốc gia không nói tiếng Anh (33,5%).
Các cộng đoàn đa văn hóa
Sự đa dạng ngày càng tăng của Giáo hội cũng được phản ánh trong các nghi lễ và các cách thức thờ phượng khác của các cộng đoàn. Năm 2021, Thánh lễ được cử hành bằng ít nhất 42 ngôn ngữ khác nhau, tăng từ 35 ngôn ngữ cách đây 20 năm. Ngoài tiếng Anh, các ngôn ngữ phổ biến nhất là tiếng Việt, tiếng Ả Rập, tiếng Chaldean và tiếng Ý. Tiếng Malayalam, được sử dụng trong nhiều Thánh lễ Công Giáo Syro-Malabar, là ngôn ngữ Ấn Độ phổ biến nhất.
Sự chuyển đổi này đặt ra một câu hỏi đáng lưu ý về tương lai của Giáo hội Úc: Liệu sức mạnh của sự tận tâm với Giáo hội từ cha mẹ của những người di cư này có phai nhạt ở con cháu của họ, như đã xảy ra với các nhóm người di cư khác?
Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Giáo hội đã đón nhận sự phong phú và đa dạng do các cộng đoàn đa văn hóa mang lại. Trong một thông điệp năm ngoái, nhắc lại sự chào đón những người di cư được nêu trong thư mục vụ năm 1950, các giám mục Úc đã nói về “đóng góp vô cùng to lớn” của những người di cư.
“Sự hiện diện của họ không không những củng cố nền tảng cộng đồng của chúng ta mà còn làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa của việc làm người,” các ngài nói.
Đức Tổng Giám Mục hưu trí Mark Coleridge đã sử dụng ngôn ngữ thân mật hơn khi gần đây suy tư về tác động của những người di cư gần đây đối với Giáo hội: “Nếu loại bỏ người Việt Nam, người Ấn Độ và người Philippines, chúng ta sẽ không được tốt đẹp cho lắm.”
Nguyễn Trung Tây
Tháng 11 năm 1985, lá thư người anh con ông Bác ruột từ vùng đất đỏ Long Khánh dừng một bước chân tại hộp thư vùng thung lũng San Jose. Tôi mở lá thư giấy đen xỉn ra đọc… Ngày viết tháng 6... Tôi đọc tiếp, “Hôm Chú mất, anh đại diện em mặc áo tang cho Bố…”
!!!???
Tôi yên lặng không nói chi! Tôi không nói với ai (có lẽ ngay cả với chính mình) về giây phút nhận được tin đại tang Bố.
Một khoảng thời gian dài tôi như bôi xóa sự hiện hữu của một lá thư…
Mãi cho tới năm 2011 tại sa mạc Úc Châu, lần đầu tiên tôi viết xuống những hàng chữ diễn tả lại giây phút, “…Tôi đã lạc (lost) khi nhận được tin Bố trút hơi thở cuối đời tại Việt Nam, trong khi mình đang lang thang tại xứ người hơn một năm rồi. Một phần hồn của tôi đã chết, một góc tim bị xé rách toang, không bao giờ còn khả năng bình phục kể từ giây phút đó!!!…”
Cuối cùng, tôi quay về vùng đất quá khứ, đứng trước mộ Bố. Mới nói được mấy câu xin lỗi Bố, tôi nghẹn cổ, giọng khản đặc! Lần đầu tiên những giọt nước mắt từ hai khóe mắt con trai đầy tràn rồi bật tung bởi tang Bố. Lần đầu tiên những hạt nước mắt của một góc hồn (đã vỡ vụn bởi đại tang) rớt xuống đụng nắp mộ huyệt lạnh ngắt của Bố. Đá mài xanh xanh lấp lánh tia nắng mặt trời nhiệt đới sáng hôm đó nở tung mở lớn những hạt nước mắt con trai đứng giữa trời khóc, khóc Bố!
Hạt nước đầu tiên xuyên thủng tâm hồn chai cứng, kể từ giây phút đó nước mắt cứ thế nối tiếp vào những giây phút tư riêng và thiêng liêng … Tháng 1 năm 2012, trong bầu không khí nóng hừng hực thiêu đốt thủ đô Nam Vang, tại quán nước, tôi kể chuyện Bố với bạn thân. Tới đoạn, “…khi đứng trước mộ Bố,” tôi lại bật khóc, bạn tôi ngồi phía đối diện, khóc theo! Tháng 5 năm 2013, ngày giỗ 28 năm của Bố, tôi dâng thánh lễ cầu hồn tại sa mạc Central Australia.
Giữa ngôi giáo đường đá đỏ rộng thênh thang của phố Alice Springs, trước con mắt của bao nhiêu tín đồ thân thương, tôi cúi đầu chào, “Kính thưa Cộng đồng dân Chúa! Hôm nay giỗ Bố tôi, 28 năm…” Tới đó, tôi phải dừng lại, cũng lại bởi những hạt nước mắt. Tôi đứng đó, cạnh bàn thờ sa mạc, vỡ òa… Những hạt nước mắt rớt xuống, gặp nền đá lạnh màu đỏ, lại vẫn nở tung những đóa hoa.
Những hạt nước mắt khóc Bố nhắc nhở kỷ niệm, tôi nhớ sớm nhất với Bố. Lần đó Bố con đón xe đò lên Biên Hòa ăn đám cưới. Tôi khoảng 6 tuổi, nhỏ lắm. Ngồi cạnh bên Bố ăn tiệc cưới xong, tôi mắt nhắm lại, ngủ thẳng một giấc. Mở mắt ra, tôi vẫn nhớ những tia nắng chiếu xiên xiên ngang qua khung cửa soi rõ tôi nằm bơ vơ một mình trên giường trải chiếu cói. Tôi ngơ ngác nhìn chung quanh!? Sao toàn những khuôn mặt lạ! Bố tôi biến mất! Tôi hét lớn, “Bố ơi!”, rồi ngồi bật dậy, òa khóc đòi Bố! Bà chị vội chạy sang nhà hàng xóm gọi, “Chú ơi!”. Bố chạy về bế tôi lên, ôm vào lòng, tay đập nhè nhẹ vào lưng con trai! Tôi gục mặt vào vai Bố, nước mắt nước mũi chảy xuống ướt một khoảng lưng áo Bố. Cảm giác lạc loài, bơ vơ và nhói đau của một khúc ruột (hay trái tim? dạ dày?) bởi không có Bố ở bên cạnh vẫn còn hiện diện trong hồn cho đến bây giờ. Chuyện thời xa xưa, nhưng sao lạ, vẫn như chuyện mới, mới xảy ra trưa hôm qua.
Cũng như bao nhiêu người khác, tôi bước vào đời với nhiều nỗi sợ tiềm ẩn sâu thăm thẳm trong hồn. Có người sợ bóng đêm, có người sợ độ cao! Tôi, tôi sợ bơ vơ không có Bố!…
Bố đi đâu, tôi cũng hay được đi theo (chắc Bố biết nỗi sợ sâu thẳm của tôi). Đi vô Thành Ông Năm (Hốc Môn) thăm Cô (em ruột Bố), tôi được đi xe lam với Bố. Xuống tới Bến Tre thăm Bác (chị ruột Bố), tôi được ngồi cạnh Bố trên xe đò bon bon lăn những vòng bánh to tròn xuống tới tỉnh Kiến Hòa. Tôi nhổ cẳng lớn lên dưới bóng râm cổ thụ của Bố cho tới ngày bỏ nước ra đi, tháng 10 năm 82…
Sáng sớm tinh mơ ngày hôm đó, tôi chào Bố, ruột nhói đau. Nếu thuyền gỗ tới bến, tôi sẽ không còn Bố!?… Khi tôi bước ra khỏi nhà, Bố vẫn ngồi yên lặng trước bàn thờ Chúa, tay lần những tràng chuỗi kinh Mân Côi. Những lời kinh sáng sớm bay cao tới thiên đàng; bởi thế sau những vật lộn với sóng biển và hải tặc, thuyền gỗ PB 706 khập khễnh mang tôi tới bờ cát trắng phố Marang, Mã Lai.
Tại đảo Pulau Bidong, tôi nhận được thư Bố nhắn: nhớ mua thuốc tây gửi về cho Bố…
Đi khám tổng quát, phần lịch sử bệnh tật gia đình, tôi khai: Suyễn! Bác sĩ hỏi ai vậy! Tôi nói, “Bố tôi bệnh suyễn, rồi chết cũng vì bệnh suyễn.” Đốc tờ, ai cũng vậy, đều ngạc nhiên, phản ứng ngay, “Suyễn thì làm sao mà chết cho được!” Đương nhiên! Làm sao mà chết cho được bởi bệnh suyễn. Nhưng bác sĩ phương Tây đâu sinh ra làm người Việt Nam giữa thập niên 70 để mà hiểu về một thời; thời đôi dép để trước cửa nhà, dép nhựa cũ mòn bốc hơi biến vào đôi quang gánh người bán ve chai; thời phơi áo trong sân, áo bay lên cao biến vô chợ trời; thời Sài Gòn phố vắng tênh, thênh thang trống vắng ngay cả xe đạp; thời một viên thuốc con nhộng Penicilline tôi lấy (trộm) của Mẹ, đưa thằng bạn thân nhờ người mang bán chợ trời, hai đứa cầm một đống tiền bán viên thuốc trụ sinh ăn no nê mấy tô Phở và uống đã đời mấy ly càfe có hũ đường cát trắng tinh.
Biến cố 75 như cơn sóng thần cao ngất đổ xuống. Phố phường đổi thay! Dòng thời gian tiếp nối những vòng xoay tròn dẫn tới một đêm, tôi giật mình mở mắt thấy Bố vật mình lăn lộn trên giường; khi đó mới biết Bố bị suyễn. Có thuốc, cơn suyễn hạ; không thuốc, cơn suyễn hành Bố vật vã…
Thuốc tây của những cuối năm 70 và đầu năm 80 tại Việt Nam hiếm hoi lạng vàng!
Năm 84, đặt chân tới Mỹ, tôi gửi thuốc Suyễn và ống xịt về Việt Nam biếu Bố.
Ngày và tháng bình thản trôi qua tại thung lũng San Jose với những chờ đợi và hy vọng vào một ngày, ngày đoàn tụ, ngày của Bố và con.
Ngày rồi cũng tới (không như mong đợi), ngày tôi quay về nơi đã từng bỏ đi để gặp Bố, nói cho chính xác, mộ của Bố. Tôi đứng đó, đốt những nén nhang khói trắng ngào ngạt bốc cao tưởng nhớ linh hồn Bố. Tôi nhìn mộ bia khắc hình Bố, tên Bố, ngày tháng năm sinh… Tôi biết đó là giây phút đoàn tụ của Bố và con.
Chuyện đoàn tụ chưa chấm hết. Mấy tuần sau, tôi gặp hài cốt của Bố, từ dưới mộ sâu đưa lên (gia đình tôi quyết định cải mộ). Sau những thước đất đen, áo quan dần dần lộ dạng. Nắp quan bật tung mở ra nguyên vẹn hình hài của Bố nằm gọn bên trong. Tôi gặp lại Bố bằng xương, nhưng thịt đã hóa thành đất đen! Cả hai người chị và tôi cùng bật tung nước mắt, “Bố ơi!”. Chị tôi khóc, “Bố ơi, giờ sao chỉ còn xương!!!”. Xương cốt Bố gom lại, lò thiêu Bình Hưng Hòa đốt thành tro, đặt trong lọ sành. Hồi xưa tôi 6 tuổi, Bố ôm tôi vào lòng, tôi dựa đầu lơ thơ tóc tơ vào vai bố. Lần này tôi thôi thơ ấu, tôi ôm Bố vào lòng. Tôi trịnh trọng mang Bố về đặt trong nhà thờ giáo xứ. Kể từ giây phút ôm lại được Bố vào lòng, tôi biết một phần hồn bắt đầu thôi không mưng mủ, đã chịu lên da non!
Người Do Thái có một câu nổi tiếng, “Dưới vòm trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời. Một thời để sinh ra và một thời để chết đi.”
Bố tôi cũng như tất cả mọi người đã tới cuộc đời này, sau cùng Bố bỏ đi về cõi vĩnh hằng, để lại trên cõi đời này xương cốt, và hiện giờ là bụi tro trong hũ sành đặt tại nguyện đường Phục Sinh của giáo xứ Lộc Hưng, Sài Gòn.
Bố, thể xác không còn, nhưng anh linh hiển hiện trong cõi muôn trùng. Vào những giây phút đen tối của cuộc đời hoặc những lúc bơ vơ không chỗ nương tựa, tôi vẫn hướng về trời gọi, “Bố ơi!”. Vẫn như thuả tôi ấu thơ, Bố lại về trong tâm thức! Tôi vẫn dựa vào vai Bố, Bố vẫn giơ tay đập nhè nhè vào lưng tôi, ru tôi bớt đi những nỗi phiền muộn nhọc nhằn!
…Tựa như chuyện cổ tích ngọt ngào mùi cơm thơm, Bố làm Bụt hiện ra gọi chim trời từng đàn bay xuống nhặt đậu xanh đậu đỏ cho con! Bởi có thể phách anh linh của Bố, con lại thêm một lần vượt qua những giây phút tuyệt vọng với đời, với người và với con. Bố vẫn ở với con, như một chuyện bình thường!
Tôi quyết định vẫn mừng ngày Lễ Bố.
1. “Địa ngục đang bắt đầu” — Ukraine có thể cô lập vùng Crimea bị tạm chiếm khi các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa làm gián đoạn hoạt động hậu cần, theo lời ông Fedorov.
Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Mykhailo Fedorov cho biết trong một cuộc phỏng vấn được công bố ngày 18 tháng 6 rằng Crimea bị Nga tạm chiếm có thể sớm bị cô lập hoàn toàn khi các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tiếp tục nhắm vào mạng lưới hậu cần của Nga.
“Crimea đang bị cô lập bởi máy bay điều khiển từ xa. Trong tương lai gần, dường như bán đảo Crimea sẽ biến thành một hòn đảo”, Fedorov nói trong một cuộc phỏng vấn với kênh YouTube PRESSING.
Bộ Trưởng Fedorov cho biết việc Ukraine ngày càng sử dụng nhiều máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm trung đang làm gián đoạn nghiêm trọng các tuyến đường tiếp tế của Nga nối liền với Crimea bị tạm chiếm.
“Và điều này có thể dẫn đến những hậu quả rất khó lường đối với người Nga. Tôi không thể nói thêm gì nữa.”
Theo Fedorov, Bộ Quốc phòng Ukraine đã ký hợp đồng mua số lượng máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm trung nhiều hơn 300% trong bốn tháng đầu năm 2026 so với cả năm 2025. Các máy bay điều khiển từ xa này cũng được sử dụng thường xuyên để tấn công các mục tiêu ở các khu vực bị tạm chiếm phía nam Ukraine và các tuyến đường hậu cần hỗ trợ lực lượng Nga.
Bộ Trưởng Fedorov nói thêm rằng Ukraine đã khởi động cái mà ông mô tả là chương trình “phong tỏa hậu cần”, cung cấp thêm kinh phí trực tiếp cho các đơn vị quân đội có khả năng nhanh chóng mua và triển khai máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm trung.
“Đối với người Nga, địa ngục đang bắt đầu — một địa ngục rất khó đối phó,” Fedorov nói. “Hậu cần đang bị cắt đứt. Crimea đang bị cô lập.”
Theo Bộ Trưởng Fedorov, cũng có mối liên hệ trực tiếp giữa các cuộc tấn công thành công vào hệ thống hậu cần của Nga và việc giảm bớt các hoạt động tấn công của Nga dọc theo tiền tuyến.
Kyiv ngày càng tấn công vào các tuyến giao thông kết nối Crimea với các khu vực bị tạm chiếm khác ở miền nam Ukraine như một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm làm phức tạp các tuyến đường tiếp tế của Nga cho quân đội tiền tuyến.
Theo thông báo của Bộ Tổng tham mưu, lực lượng Ukraine đã tấn công một cây cầu đường bộ bắc qua kênh đào Bắc Crimea gần làng Stavky và một cây cầu khác gần Voinka thuộc khu vực bị tạm chiếm của tỉnh Kherson vào đêm 17 tháng 6.
[Kyiv Independent: 'Hell is beginning' — Ukraine could isolate occupied Crimea as drone strikes disrupt logistics, Fedorov says]
2. Nhà phê bình Putin lưu vong, người từng chế giễu bạo chúa bằng những bức tranh châm biếm, đã bị hạ sát ở Ba Lan sau khi nhận được “lời cảnh báo từ những người trung thành với Nga”.
Một họa sĩ người Nga lưu vong, người không ngừng chế giễu Vladimir Putin và các đồng minh của ông bằng những bức tranh châm biếm, đã bị bắn chết trong một bãi đậu xe.
Semyon Skrepetsky, 44 tuổi, tên thật là Robert Kuzovkov, được tìm thấy đã chết ở Ba Lan với nhiều vết đạn bắn vào đầu, ngực và lưng hôm thứ Hai. Cảnh sát Ba Lan cho biết như trên hôm Thứ Năm, 18 Tháng Sáu.
Semyon nổi tiếng với việc khắc họa Putin như một nhà độc tài khát máu và liên tục chế giễu những đồng minh thân cận nhất của ông ta trong các tác phẩm nghệ thuật đầy tính khiêu khích và tàn bạo của mình.
Người nghệ sĩ thẳng thắn chống Cẩm Linh đã bị bắn chết tại thành phố Biała Podlaska ở miền đông Ba Lan, cách biên giới Belarus khoảng 40km.
Các công tố viên Ba Lan xác nhận vụ giết người xảy ra tại một bãi đậu xe, nơi người đàn ông 44 tuổi bị một tay súng đơn độc tiếp cận và nổ súng ở cự ly gần.
Semyon bị bắn năm phát vào đầu, ngực và lưng.
Ban đầu có hai phát súng được bắn ra, sau đó kẻ tấn công đứng lên trên người Semyon và xả thêm ba phát nữa khi anh ta đang nằm trên mặt đất.
Các nhà điều tra cho biết cuộc điều tra ban đầu cho thấy đây là một vụ ám sát có chủ đích.
Cảnh sát cho biết: “Khi nạn nhân ngã xuống đất, thủ phạm tiến lại gần, bắn thêm ba phát súng nữa rồi nhanh chóng bỏ trốn khỏi hiện trường. Robert K đã tử vong tại chỗ.”
Năm vỏ đạn và một viên đạn Geco 9ly Luger đã được thu hồi khi các đội pháp y phong tỏa khu vực.
Cảnh sát đang tiếp tục thu thập thông tin để làm rõ vụ giết người theo kiểu hành quyết này, và cuộc khám nghiệm tử thi dự kiến sẽ được tiến hành.
Một cuộc truy lùng quy mô lớn vẫn đang diễn ra để tìm kiếm kẻ giết người, cảnh sát đã bắt giữ hai công dân Belarus, 33 và 37 tuổi, gần lãnh sự quán Belarus.
Theo thông tin, một tài xế taxi cũng đã bị thẩm vấn sau khi bị cáo buộc chở các nghi phạm tiềm năng từ Warsaw.
Các viên chức cảnh sát đang tích cực truy tìm hung thủ, đồng thời cảnh báo rằng nghi phạm “có thể đã thay đổi ngoại diện”.
Cảnh sát nói: “Hiện tại, điều quan trọng nhất là xác định danh tính và bắt giữ hắn càng nhanh càng tốt.”
Ông cũng xác nhận: “Chúng tôi đã xác định được danh tính của người đàn ông bị bắn chết hôm nay tại Biała Podlaska bởi một người đàn ông không rõ danh tính. Nạn nhân là một công dân Nga 44 tuổi.”
Skrepetsky, người sử dụng bút danh của mình để xuất bản các tác phẩm nghệ thuật mang tính chính trị, đã trở nên nổi tiếng vì miêu tả Putin như một bạo chúa tàn nhẫn.
Ông ta cũng tấn công vào nhà lãnh đạo Belarus Alexander Lukashenko và nhân vật quyền lực Chechnya Ramzan Kadyrov – tất cả đều là đồng minh thân cận của Điện Cẩm Linh.
Chỉ vài ngày trước khi qua đời, ông đã tổ chức một cuộc biểu tình hết sức khiêu khích bên ngoài đại sứ quán Nga ở Berlin vào ngày 12 tháng 6.
Ông ta rút một lá cờ Nga từ phía sau quần và ném vào thùng rác, rồi mang theo một bức tranh vẽ Joseph Stalin đang bế Vladimir Putin lúc còn nhỏ.
Ông cũng tuyên bố đã nhận được “những lời đe dọa” từ những người ủng hộ Putin trong những ngày trước khi vụ ám sát xảy ra.
Đồng thời, những rạn nứt cũng đang xuất hiện trong không gian thông tin ủng hộ chiến tranh của Nga.
Blogger ủng hộ Putin Yegor Guzenko – được biết đến trên mạng với biệt danh “Người thứ 13” – đã mất tích sau khi được điều động tham gia một nhiệm vụ ở tiền tuyến mà các đồng đội mô tả là “mồi ngon cho chiến tranh”.
Ông được bổ nhiệm ngay sau khi đăng tải những lời chỉ trích hiếm hoi về thông điệp chiến tranh của Điện Cẩm Linh và cáo buộc các quan chức “nói dối”.
Một cú sốc lớn khác trong giới truyền thông thân chiến tranh của Nga xảy ra sau khi Ilya Remeslo, một người ủng hộ Điện Cẩm Linh nổi tiếng, bất ngờ quay lưng lại với Vladimir Putin.
Trong một bài đăng gây chấn động có tiêu đề “Năm lý do tại sao tôi ngừng ủng hộ Vladimir Putin”, Remeslo kêu gọi nhà lãnh đạo Nga từ chức và cho rằng ông ta nên bị đưa ra xét xử với tư cách là tội phạm chiến tranh.
Ông cáo buộc Putin đã lôi kéo Nga vào cuộc chiến thất bại ở Ukraine và cảnh báo đất nước đang hướng tới sự bất ổn nghiêm trọng và nguy cơ sụp đổ.
Ông Remeslo cũng cho rằng chiến tranh, áp lực kinh tế và việc hạn chế internet ngày càng gia tăng đang làm gia tăng sự phẫn nộ trên khắp nước Nga, và nói rằng tình hình dưới thời Putin là không thể duy trì được.
Trong bài đăng của mình, anh ta khẳng định đây không phải là trò đùa hay một màn dàn dựng, nói rằng: “Tất cả những điều này đều không phải là giả tạo. Tôi chỉ đang nói sự thật.”
Ông nói thêm: “Mọi người thực sự đánh giá quá cao chính quyền hiện tại.”
Các báo cáo sau đó cho rằng ông đã được đưa vào một bệnh viện tâm thần, mặc dù không có lý do chính thức nào được đưa ra.
Làn sóng bí ẩn và bạo lực ngày càng gia tăng xung quanh những người chỉ trích Putin diễn ra trong bối cảnh căng thẳng leo thang về nỗ lực chiến tranh của Nga và áp lực nội bộ ngày càng lớn đối với Điện Cẩm Linh, khi đất nước ngày càng chìm sâu vào bất ổn.
Dân biểu đối lập Nga Vyacheslav Markhayev cảnh báo đất nước đang “trên bờ vực bùng nổ xã hội” và kêu gọi chính phủ của Vladimir Putin xem xét lại cuộc chiến ở Ukraine trước khi nó rơi vào “tình trạng hỗn loạn hoàn toàn”.
Ông nói: “Chúng ta cần một kế hoạch rõ ràng, công khai để chấm dứt chiến dịch quân sự đặc biệt, dựa trên lợi ích quốc gia của Nga.”
“Thời đại của những ảo tưởng đã qua rồi.”
“Đất nước đang đứng trên bờ vực bùng nổ xã hội, và toàn bộ trách nhiệm sẽ thuộc về chính quyền không thể bị phế truất.”
Markhayev nói thêm: “Nếu một kẻ thù bên ngoài chiếm được Nga, chúng sẽ làm gì? Chúng sẽ chiếm đoạt tài nguyên, cướp bóc công nghiệp, tăng thuế quan và xây dựng những biệt thự cho riêng mình.”
“ Nhưng không hề có cuộc xâm lược nào diễn ra; chính quyền đã tự mình làm được tất cả những điều này, hiệu quả hơn bất kỳ kẻ xâm lược nào.”
Ukraine tiếp tục tấn công sâu vào lãnh thổ do Nga kiểm soát, các cuộc tấn công được tường trình đã gây thiệt hại cho các tuyến đường vận tải quan trọng vào Crimea và tấn công vào các cơ sở hạ tầng dầu khí và hóa dầu lớn.
Tình trạng suy thoái kinh tế đã buộc Nga phải thu hẹp quy mô các lễ hội công cộng ở một số khu vực.
[The Sun: Exiled Putin critic who mocked tyrant in satirical paintings shot dead in Poland after ‘warning from Russian loyalists’]
3. Tướng Syrskyi cho biết Ukraine sẽ thành lập các đơn vị máy bay điều khiển từ xa mới để tăng cường phòng thủ dọc biên giới phía bắc với Nga và Belarus.
Tư lệnh tối cao Ukraine Oleksandr Syrskyi cho biết Ukraine đang thành lập các đơn vị hệ thống điều khiển từ xa mới ở khu vực phía bắc để tăng cường phòng thủ biên giới và chuẩn bị cho các diễn biến tiềm tàng trên chiến trường.
Tuyên bố này được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Kyiv và Minsk về nguy cơ leo thang quân sự dọc biên giới Belarus-Ukraine.
Cuối tháng 5, nhà độc tài Belarus Alexander Lukashenko cũng hạ thấp khả năng của quân đội Ukraine đóng dọc biên giới Belarus, mô tả họ là “bia đỡ đạn”.
Tướng Syrskyi không nói rõ ông đang đề cập đến khu vực nào thuộc vùng phía bắc. Biên giới phía bắc của Ukraine giáp với Nga ở các tỉnh Sumy, Chernihiv và Kharkiv, và giáp với Belarus ở các tỉnh Kyiv, Zhytomyr, Rivne và Volyn.
Tướng Syrskyi nói thêm rằng Ukraine sẽ tiếp tục mở rộng năng lực của các đơn vị đã được triển khai ở khu vực phía bắc, nhưng không làm rõ liệu các biện pháp này nhằm mục đích đối phó với các mối đe dọa từ Nga, Belarus, hay cả hai.
Quan hệ giữa Kyiv và Minsk xấu đi nghiêm trọng sau khi chiến tranh bùng nổ. Belarus cho phép quân đội Nga sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành cuộc tấn công vào thủ đô của Ukraine vào đầu năm 2022, điều này đã gây ra sự lên án rộng rãi của quốc tế và khiến các nước phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt sâu rộng đối với chế độ của Lukashenko.
Kể từ đó, lãnh thổ này tiếp tục được Nga sử dụng cho các cuộc tấn công tầm xa nhằm vào Ukraine, thường sử dụng máy bay điều khiển từ xa kiểu Shahed.
Trong những tháng gần đây, các quan chức Ukraine đã nhiều lần cảnh báo rằng Mạc Tư Khoa có thể một lần nữa tìm cách sử dụng lãnh thổ Belarus cho các hoạt động quân sự.
Ngày 15 tháng 5, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết Ukraine đã ghi nhận những cuộc tiếp xúc mới giữa Mạc Tư Khoa và Minsk nhằm thuyết phục nhà độc tài Belarus Alexander Lukashenko “tham gia vào các hành động gây hấn mới”.
Theo Tổng thống Zelenskiy, Nga đang cân nhắc sử dụng lãnh thổ Belarus để tấn công các quốc gia thành viên NATO láng giềng.
Ngày 21 tháng 5, Tổng thống Zelenskiy tuyên bố Ukraine sẵn sàng thực hiện các biện pháp “phòng ngừa” chống lại Nga và Belarus để đáp trả các mối đe dọa quân sự tiềm tàng dọc biên giới phía bắc của nước này.
Tổng thống Lukashenko phủ nhận việc Belarus có ý định tham chiến, nói trong một cuộc phỏng vấn được đăng tải ngày 15 tháng 6 rằng nước này không gây ra mối đe dọa quân sự nào đối với Ukraine. Ông Lukashenko nói thêm rằng Belarus sẽ chỉ tham chiến nếu bị tấn công.
[Kyiv Independent: Ukraine to create new drone units to bolster defenses along northern border with Russia, Belarus, Syrskyi says]
4. Tổng thống Trump nói Mỹ có thể sớm tái áp đặt lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ Nga.
Tổng thống Donald Trump cho biết Washington có thể sớm khôi phục các lệnh trừng phạt nhắm vào xuất khẩu dầu mỏ của Nga, trong bối cảnh các nhà lãnh đạo G7 tìm cách gia tăng áp lực lên Mạc Tư Khoa về cuộc chiến tranh chống Ukraine.
Phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh G7, Tổng thống Trump cho biết động thái này đã bị trì hoãn do lo ngại về sự gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu trong cuộc xung đột gần đây ở Trung Đông.
“Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ có thể làm được điều đó vì dầu mỏ hiện đã được vận chuyển trở lại qua eo biển Hormuz”, Tổng thống Trump nói, đề cập đến thỏa thuận với Iran chấm dứt cuộc chiến tranh khu vực.
Chính sách trừng phạt của Mỹ đối với dầu mỏ Nga đã thay đổi liên tục trong những tháng gần đây.
Vào tháng 3, Bộ Tài chính Hoa Kỳ dưới thời Bộ trưởng Scott Bessent đã đưa ra các ngoại lệ có giới hạn cho phép các lô hàng dầu thô của Nga đã được chất lên tàu được vận chuyển, sau khi giá năng lượng toàn cầu tăng vọt sau khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel bùng nổ vào ngày 28 tháng 2 và các gián đoạn trên các tuyến vận chuyển ở vùng Vịnh.
Các biện pháp này được thiết kế như một vùng đệm tạm thời cho thị trường năng lượng toàn cầu, và các miễn trừ sau đó đã được gia hạn đến tháng Tư theo Giấy phép chung 134B.
Theo Reuters, các trường hợp miễn trừ này cũng nhằm mục đích giúp đỡ “các quốc gia nghèo và dễ bị tổn thương” đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung khi việc tiếp cận dầu mỏ Trung Đông trở nên khó khăn hơn.
Ban đầu, Washington cho biết các trường hợp miễn trừ sẽ kéo dài 30 ngày, nhưng chúng đã được gia hạn nhiều lần theo yêu cầu của một số quốc gia nhằm tránh những cú sốc tiếp theo đối với nguồn cung năng lượng toàn cầu.
Vào tháng 5, chính sách của Mỹ về việc miễn trừ đã thay đổi liên tục.
Ngày 17 tháng 5, chính quyền Trump đã chấm dứt chương trình miễn trừ trừng phạt ngắn hạn đối với dầu mỏ của Nga, báo hiệu sự trở lại của áp lực kinh tế mạnh hơn đối với Mạc Tư Khoa.
Chỉ một ngày sau, vào ngày 18 tháng 5, Washington đã gia hạn miễn trừ thêm 30 ngày nữa do những lo ngại tiếp tục gia tăng về sự bất ổn của thị trường năng lượng.
Những điều chỉnh liên tục này đã vấp phải sự chỉ trích từ các đồng minh Âu Châu và Ukraine.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cảnh báo rằng Nga, quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào doanh thu dầu mỏ để tài trợ cho nỗ lực chiến tranh của mình, không nên được hưởng lợi từ bất kỳ sự nới lỏng nào về lệnh trừng phạt trong khi vẫn tiếp tục các cuộc tấn công vào các thành phố của Ukraine.
Với việc dòng chảy dầu qua eo biển Hormuz hiện đang ổn định, Tổng thống Trump cho rằng Mỹ cuối cùng có thể khôi phục lại các biện pháp cứng rắn hơn.
[Kyiv Post: Trump Says US Could Soon Reimpose Sanctions on Russian Oil]
5. Nội dung 14 điểm của thỏa thuận giữa Iran và Mỹ.
Tổng thống Trump đã bảo vệ bản ghi nhớ đạt được giữa Mỹ và Iran tại cuộc họp báo bế mạc hội nghị thượng đỉnh Nhóm G7 ở Pháp, đồng thời cảnh báo rằng quân đội Mỹ có thể nối lại các cuộc ném bom nếu một thỏa thuận toàn diện hơn không được ký kết trong vòng 60 ngày.
Phát biểu trong hơn một giờ đồng hồ tại Évian-les-Bains hôm thứ Tư, tổng thống cho biết sẽ có lễ ký kết thỏa thuận mang tính hình thức trong vòng một hoặc hai ngày tới.
Dưới đây là bản dịch 14 điểm trong thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Iran được trao cho các phóng viên báo chí tham dự cuộc họp báo của Tổng thống Trump. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy
Thứ nhất, Hoa Kỳ, Cộng hòa Hồi giáo Iran và các đồng minh trong cuộc chiến hiện tại, bằng việc ký kết Bản ghi nhớ này, tuyên bố chấm dứt ngay lập tức và vĩnh viễn các hoạt động quân sự trên tất cả các mặt trận, bao gồm cả ở Li Băng, và cam kết từ nay trở đi sẽ không phát động bất kỳ cuộc chiến tranh hay hoạt động quân sự nào chống lại nhau, và sẽ kiềm chế việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại nhau, đồng thời bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Li Băng. Thỏa thuận cuối cùng sẽ xác nhận việc chấm dứt vĩnh viễn chiến tranh trên tất cả các mặt trận, bao gồm cả ở Li Băng và các điều khoản khác của đoạn này.
Thứ hai, Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Thứ ba, Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran cam kết đàm phán và đạt được thỏa thuận cuối cùng trong tối đa 60 ngày, có thể gia hạn theo thỏa thuận chung.
Thứ tư, Ngay sau khi ký kết Biên bản ghi nhớ này, Hoa Kỳ sẽ bắt đầu dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân và mọi sự quấy rối hoặc cản trở đối với Cộng hòa Hồi giáo Iran, và sẽ chấm dứt hoàn toàn lệnh phong tỏa hải quân trong vòng 30 ngày. Trong thời gian này, lưu lượng tàu thuyền sẽ được điều chỉnh theo tỷ lệ thuận với số lượng tàu thuyền được Cộng hòa Hồi giáo Iran khôi phục như trước chiến tranh. Hoa Kỳ cũng cam kết rút quân khỏi khu vực lân cận Cộng hòa Hồi giáo Iran trong vòng 30 ngày sau khi thỏa thuận cuối cùng được ký kết.
Thứ năm, Sau khi ký kết Biên bản ghi nhớ này, Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ nỗ lực hết sức để bảo đảm an toàn cho việc lưu thông của các tàu thương mại mà không thu phí trong vòng 60 ngày từ Vịnh Ba Tư đến Biển Oman và ngược lại. Việc lưu thông của các tàu thương mại sẽ được nối lại ngay lập tức và, xét đến nhu cầu loại bỏ các trở ngại kỹ thuật và quân sự cũng như việc rà phá bom mìn do Cộng hòa Hồi giáo Iran thực hiện, sẽ được tiến hành trong vòng 30 ngày. Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ tiến hành đối thoại với Vương quốc Oman để xác định việc quản lý và các dịch vụ hàng hải trong tương lai tại Eo biển Hormuz, thảo luận với các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư khác, phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành và chủ quyền của các quốc gia ven biển Eo biển Hormuz.
Thứ sáu, Hoa Kỳ cam kết cùng các đối tác khu vực xây dựng một kế hoạch cuối cùng được hai bên đồng ý, với tổng kinh phí ít nhất 300 tỷ đô la Mỹ, để tái thiết và phát triển kinh tế Cộng hòa Hồi giáo Iran. Cơ chế thực hiện kế hoạch này sẽ được hoàn thiện trong thỏa thuận cuối cùng trong vòng 60 ngày. Hoa Kỳ sẽ cấp tất cả các giấy phép, miễn trừ và sự cho phép cần thiết cho các giao dịch tài chính liên quan.
Thứ bẩy, Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hình thức trừng phạt đối với Cộng hòa Hồi giáo Iran, bao gồm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, nghị quyết của Hội đồng Thống đốc IAEA và tất cả các hình thức trừng phạt đơn phương của Hoa Kỳ, cả chính và phụ, theo một lịch trình đã được thỏa thuận như một phần của thỏa thuận cuối cùng. Cộng hòa Hồi giáo Iran và Hoa Kỳ thừa nhận tầm quan trọng sống còn của vấn đề chấm dứt trừng phạt nêu trên và bày tỏ ý định sẽ ngay lập tức giải quyết các vấn đề này trong các cuộc đàm phán để đạt được thỏa thuận chung.
Thứ tám, Cộng hòa Hồi giáo Iran tái khẳng định sẽ không mua sắm hoặc phát triển vũ khí hạt nhân. Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran đã đồng ý giải quyết việc giải quyết vật liệu uranium làm giàu dự trữ, theo một cơ chế sẽ được hai bên cùng thỏa thuận phù hợp với lịch trình được đề cập trong đoạn bảy, với phương pháp tối thiểu là pha loãng tại chỗ dưới sự giám sát của IAEA. Hai bên cũng đồng ý thảo luận về vấn đề làm giàu và các vấn đề khác được hai bên cùng thỏa thuận liên quan đến nhu cầu hạt nhân của Cộng hòa Hồi giáo Iran, trên cơ sở một khuôn khổ thỏa đáng được đồng ý trong thỏa thuận cuối cùng. Thỏa thuận cuối cùng sẽ xác nhận các điều khoản của đoạn này. Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran thừa nhận tầm quan trọng sống còn của các vấn đề hạt nhân nêu trên và bày tỏ ý định sẽ ngay lập tức giải quyết các vấn đề này trong các cuộc đàm phán để đạt được thỏa thuận chung.
Thứ chín, Trong khi chờ đạt được thỏa thuận cuối cùng, Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran đồng ý duy trì hiện trạng. Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ duy trì hiện trạng chương trình hạt nhân của mình, và Hoa Kỳ sẽ không áp đặt bất kỳ lệnh trừng phạt mới nào, cũng như không triển khai thêm quân đội trong khu vực.
Thứ mười, Hoa Kỳ cam kết rằng ngay sau khi ký kết Biên bản ghi nhớ này và cho đến khi lệnh trừng phạt chấm dứt, Bộ Tài chính Hoa Kỳ sẽ miễn trừ cho việc xuất khẩu dầu thô, các sản phẩm dầu mỏ và các dẫn xuất của Iran, cũng như tất cả các dịch vụ liên quan, bao gồm các giao dịch ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển, v.v.
Thứ mười một, Hoa Kỳ cam kết sẽ cho phép sử dụng đầy đủ các khoản tiền và tài sản bị đóng băng hoặc hạn chế của Cộng hòa Hồi giáo Iran sau khi Biên bản ghi nhớ này được thực hiện. Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ cùng nhau thỏa thuận về các thủ tục liên quan đến việc giải phóng các khoản tiền này trong quá trình đàm phán. Các khoản tiền này, dù được giữ lại trong tài khoản ban đầu hay được chuyển giao, sẽ được sử dụng đầy đủ để thanh toán cho bất kỳ người thụ hưởng cuối cùng nào được Ngân hàng Trung ương Cộng hòa Hồi giáo Iran chỉ định. Hoa Kỳ cam kết sẽ cấp tất cả các giấy phép và ủy quyền cần thiết theo đó.
Thứ mười hai, Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran đồng ý sẽ thiết lập một cơ chế điều hành để giám sát việc thực hiện thành công Biên bản ghi nhớ này và việc tuân thủ thỏa thuận cuối cùng trong tương lai.
Thứ mười ba, Sau khi ký kết Biên bản ghi nhớ này và tùy thuộc vào việc bắt đầu thực hiện các khoản 1, 4, 5, 10 và 11 của Biên bản ghi nhớ này, cũng như việc tiếp tục thực hiện các biện pháp này, Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ bắt đầu đàm phán về thỏa thuận cuối cùng chỉ riêng đối với các khoản còn lại.
Thứ mười bốn, Thỏa thuận cuối cùng sẽ được thông qua bằng một nghị quyết ràng buộc của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
[CBSNews: Read the 14 points of the agreement between Iran and the U.S.]
6. Warnock: “Tại sao chúng ta lại tham gia vào cuộc chiến này ngay từ đầu?”
Hai ngày sau khi Mỹ và Iran hoàn tất thỏa thuận gia hạn lệnh ngừng bắn và mở lại eo biển Hormuz, Thượng Nghị Sĩ đảng Dân chủ Raphael Warnock của bang Georgia lập luận rằng kết quả của nhiều tháng chiến tranh với Iran “trông rất giống với tình hình trước khi tất cả những điều này bắt đầu”.
“Tôi hy vọng chiến tranh đã kết thúc, nhưng câu hỏi đặt ra là, tại sao chúng ta lại tham gia vào cuộc chiến ngay từ đầu?”, ông Warnock nói với các phóng viên trưởng. “Họ nói rằng eo biển Hormuz sẽ được mở cửa trở lại. Nhưng nó đã mở cửa trước khi ông ấy bắt đầu chiến tranh. Và chúng ta còn rất xa so với những gì Ông Donald Trump đã hứa và những gì dường như ông ấy sẽ thực hiện.”
Khi cuộc chiến bắt đầu vào cuối tháng Hai, Tổng thống Trump tuyên bố mục tiêu của ông bao gồm làm suy yếu quân đội chính quy của Iran và ngăn chặn Iran chế tạo vũ khí hạt nhân. Ông cũng cho rằng cuộc chiến có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Iran.
Tổng thống Trump lập luận rằng Mỹ đã thành công trong việc làm suy yếu quân đội Iran, nhưng chính phủ vẫn tại vị, mặc dù cựu lãnh đạo tối cao và một số quan chức cao cấp khác đã thiệt mạng.
Về vấn đề hạt nhân, bản ghi nhớ được các quan chức Iran và Mỹ đồng ý vào cuối tuần qua đã thiết lập thời hạn 60 ngày để hai bên đàm phán một thỏa thuận dài hạn hơn về số phận chương trình hạt nhân của Iran, một vấn đề gai góc và khó giải quyết.
Ông Warnock cũng nói với đài CBS News rằng cuộc chiến “không tốt cho nước Mỹ hay uy tín của Hoa Kỳ”, và các đối thủ của Mỹ như Trung Quốc và Nga đã đạt được những thành công tương đối - đặc biệt là khi Nga được hưởng lợi từ giá dầu tăng cao.
Khi được hỏi liệu nước Mỹ hiện nay có an toàn hơn không, Warnock trả lời: “Tôi không nghĩ vậy.”
[CBSNews: Warnock: “Why were we in this war in the first place?”]
7. Tổng thống Trump nói cuộc chiến ở Ukraine “không ảnh hưởng” đến Mỹ, nhưng cam kết sẽ giúp chấm dứt cuộc chiến.
Tổng thống Donald Trump tuyên bố rằng ông sẽ tiếp tục nỗ lực giúp chấm dứt cuộc xâm lược Ukraine của Nga, đồng thời nói rằng cuộc chiến này “không ảnh hưởng” đến Hoa Kỳ.
Trả lời phóng viên sau cuộc gặp song phương với tiểu vương Qatar, khi được hỏi về hình thức của một thỏa thuận hòa bình tiềm năng, Tổng thống Trump cho biết Nga nên đồng ý với một thỏa thuận dàn xếp.
“Hãy nhìn xem, Nga nên đạt được thỏa thuận,” Tổng thống Trump nói.
Khi được hỏi liệu Ukraine có tiếp tục là trọng tâm trong chính quyền của ông hay không, Tổng thống Trump cho rằng Ukraine sẽ bị xếp sau cùng khi Washington vẫn tập trung vào Iran.
“Vâng, chúng ta sẽ xem xét. Hiện tại chúng ta đang tập trung vào, chúng ta đã tập trung vào Iran,” Tổng thống Trump nói.
“Chuyện đó sẽ ở phía sau, trong gương chiếu hậu, nhưng chúng tôi — tôi chỉ muốn nói, chúng tôi không liên quan gì đến chuyện đó cả,” ông ấy nói thêm.
Tổng thống Trump nói tiếp rằng cuộc chiến này có rất ít ảnh hưởng trực tiếp đến Hoa Kỳ.
“Nó không ảnh hưởng gì đến chúng ta, ngoài việc chúng ta bán vũ khí,” Tổng thống Trump nói. “Chúng ta cách xa hàng ngàn dặm.”
Bất chấp những phát ngôn đó, Tổng thống Trump cho biết ông vẫn kiên định với mục tiêu chấm dứt chiến tranh.
“Nhưng lý do duy nhất tôi tham gia là vì tôi không muốn thấy 25.000 người chết mỗi tháng”, Tổng thống Trump nói. “Những người trẻ tuổi, họ chỉ mới bắt đầu cuộc sống của mình… Toàn bộ chuyện này thật nực cười.”
“Vâng, tôi sẽ làm bất cứ điều gì có thể,” anh ta nói thêm.
Những phát ngôn của Tổng thống Trump được đưa ra sau cuộc gặp với Tổng thống Volodymyr Zelenskiy bên lề Hội nghị thượng đỉnh Nhóm G7. Cuộc gặp kéo dài khoảng 30 phút, đánh dấu lần gặp mặt trực tiếp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo trong hơn bốn tháng, khi Kyiv tìm cách khôi phục các cuộc đàm phán hòa bình đang bế tắc.
Trong cuộc gặp, Tổng thống Zelenskiy cho biết ông đã nêu lên nhu cầu phòng không của Ukraine, bao gồm cả khả năng xin giấy phép sản xuất các hệ thống phòng không chống hỏa tiễn và hỏa tiễn trong nước.
Tổng thống Mỹ dường như rất hoan nghênh đề xuất này, Tổng thống Zelenskiy cho biết.
[Kyiv Independent: Trump says Ukraine war has 'no impact' on US, but vows to help end it]
8. Tổng thống Zelenskiy, Tổng thống Trump và Tổng thống Macron có cuộc gặp kín tại hội nghị thượng đỉnh G7 trong bối cảnh Ukraine thúc đẩy đàm phán hòa bình.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã gặp gỡ Tổng thống Donald Trump và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron bên lề hội nghị thượng đỉnh G7 tại Pháp vào ngày 16 tháng 6, theo hai nguồn tin thân cận với vấn đề này.
Cuộc gặp đánh dấu lần chạm mặt đầu tiên giữa Tổng thống Zelenskiy và Tổng thống Trump sau hơn bốn tháng và kéo dài khoảng 30 phút, trong bối cảnh Kyiv đang tìm cách khôi phục các cuộc đàm phán hòa bình bị đình trệ.
Trong cuộc gặp ngắn, tổng thống Ukraine đã cho Tổng thống Trump xem những bức ảnh về thiệt hại tại Kyiv Pechersk Lavra, một trong những địa danh tôn giáo và lịch sử quan trọng nhất của Ukraine, do một cuộc tấn công trực tiếp gần đây của Nga gây ra.
Theo nguồn tin thân cận với vụ việc, Tổng thống Trump tỏ ra vô cùng thất vọng trước sự tàn phá và “có vẻ xúc động” trước những hình ảnh đó.
Ba nhà lãnh đạo sau đó đã tham gia một phiên làm việc chung với các nhà lãnh đạo G7 khác, trong đó cuộc xâm lược Ukraine của Nga là chủ đề thảo luận trọng tâm.
Tổng thống Zelenskiy cho biết việc hỗ trợ phòng không đã được các đối tác G7 đồng ý, đồng thời nói thêm rằng tất cả các thành viên trong nhóm sẽ cùng nhau nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ cho Ukraine.
“Chúng tôi đã thảo luận về cả hệ thống phòng thủ lẫn hỏa tiễn,” ông nói với các phóng viên.
Ông cũng cho biết đã trực tiếp nêu vấn đề này với Tổng thống Trump, bày tỏ hy vọng Ukraine có thể giành được giấy phép sản xuất các hệ thống phòng thủ hỏa tiễn và hỏa tiễn có liên quan.
Tổng thống Mỹ dường như đón nhận đề xuất này một cách tích cực, Tổng thống Zelenskiy nói thêm.
“Chúng tôi đã có một cuộc gặp tốt đẹp. Tôi sẽ gặp (Tổng thống Zelenskiy) vào cuối ngày hôm nay”, Tổng thống Trump nói với các phóng viên sau cuộc gặp, đồng thời cho biết thêm rằng Nga “nên đạt được một thỏa thuận”.
Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh Ukraine gia tăng áp lực lên Putin để ông tổ chức các cuộc đàm phán trực tiếp với Tổng thống Zelenskiy - một cuộc gặp mặt trực tiếp sẽ là cuộc gặp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo kể từ khi Nga bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện.
Tổng thống Zelenskiy từ lâu đã lập luận rằng chỉ có Putin mới có quyền chấm dứt chiến tranh.
Các cuộc đàm phán hòa bình do Mỹ làm trung gian đã thực sự bị đóng băng kể từ tháng Hai. Kể từ đó, sự chú ý của Washington đã chuyển sang cuộc chiến với Iran, mà cả Ukraine và Mỹ đều...
Các quan chức Mỹ cho biết đây đã trở thành lý do chính khiến các cuộc đàm phán mất đà.
Ngày 15 tháng 6, Tổng thống Zelenskiy cho biết ông hy vọng Tổng thống Trump sẽ giúp tạo điều kiện cho một cuộc gặp ba bên giữa ông và Putin tại Hoa Kỳ.
“Nếu Nga cũng từ chối cơ hội này, thì cần phải gây áp lực,” ông nói.
Điện Cẩm Linh liên tục tránh gặp Tổng thống Zelenskiy tại một quốc gia trung lập, thay vào đó khăng khăng yêu cầu tổng thống Ukraine đến Mạc Tư Khoa - một đề xuất mà Kyiv coi là nỗ lực nhằm tránh hoàn toàn các cuộc đàm phán có ý nghĩa.
Tổng thống Zelenskiy đã nhiều lần kêu gọi đàm phán trực tiếp với Putin. Chỉ cách đây một tuần, ông đã mời nhà lãnh đạo Nga gặp mặt tại một quốc gia trung lập để thảo luận về khuôn khổ một thỏa thuận hòa bình, đề xuất rằng Ukraine tuân thủ lệnh ngừng bắn toàn diện trong suốt quá trình đàm phán.
Sau đó, Putin nói rằng ông “không thấy lý do gì để gặp Tổng thống Zelenskiy”.
Trước đây, Tổng thống Trump từng bày tỏ sự ủng hộ đối với các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Nga và Ukraine như một con đường hướng tới chấm dứt cuộc chiến tranh toàn diện.
[Kyiv Independent: Zelensky, Trump, Macron hold behind-the-scenes meeting at G7 summit as Ukraine pushes peace talks]
9. Tổng thống Trump nói “không sao cả” nếu Iran có một số hỏa tiễn đạn đạo.
Trong cuộc họp báo tại hội nghị thượng đỉnh G7 ở Pháp, tổng thống cho biết ông không bận tâm nếu Iran sở hữu hỏa tiễn đạn đạo. Một phóng viên đã yêu cầu ông làm rõ ý kiến đó.
“Không, ý tôi là nếu các quốc gia khác có chúng, thì việc họ có một số lượng nhất định cũng là điều hợp lý,” ông nói. “Hỏa tiễn đạn đạo không giống với những gì chúng ta đang nói đến khi bàn về vũ khí hạt nhân. Nhưng nếu Ả Rập Xê Út, Qatar và tất cả các nước khác đều có một số lượng nhất định, thì theo tỷ lệ tương đối, tôi nghĩ điều đó là chấp nhận được. Đó là ý của tôi.”
Tổng thống Trump nói với các phóng viên rằng ông không coi thời hạn 60 ngày trong bản ghi nhớ giữa Mỹ và Iran để đạt được một thỏa thuận hạt nhân dài hạn hơn là một hạn chót “cứng rắn”.
Trả lời phóng viên tại Pháp, ông cho biết việc đạt được thỏa thuận “có thể mất nhiều thời gian hơn”.
Tổng thống Trump nói: “Miễn là họ cư xử đúng mực, tôi thực sự không quan tâm lắm.”
Trước đó vào thứ Tư, tổng thống cho rằng thời hạn chót rất quan trọng, nói với các phóng viên: “Nếu không hoàn thành trong 60 ngày thì cũng không sao. Chúng ta sẽ quay lại ném bom.”
[CBSNews: Trump says “it's okay” if Iran has some ballistic missiles]
10. Giá cổ phiếu tăng, giá dầu giảm sau thỏa thuận với Iran.
Các chỉ số chứng khoán chính tăng vọt và giá dầu tương lai giảm vào thứ Hai, sau khi Iran và Mỹ đạt được thỏa thuận ghi nhớ về việc gia hạn lệnh ngừng bắn và mở lại eo biển Hormuz - có khả năng giải tỏa tắc nghẽn trên hành lang vận chuyển dầu quan trọng vốn đã bị đóng cửa trong nhiều tháng.
Chỉ số S&P 500 đóng cửa tăng 123 điểm (1,65%), chỉ số Dow Jones Industrial Average tăng 469 điểm (0,92%) và chỉ số Nasdaq Composite tăng 795 điểm (3,07%).
Tính đến trước 5 giờ chiều giờ Miền Đông Hoa Kỳ, giá dầu thô chuẩn của Mỹ, West Texas Intermediate, gọi tắt là WTI, đã giảm hơn 4% xuống chỉ còn hơn 81 đô la/thùng đối với các lô giao tháng 7. Giá dầu thô Brent quốc tế cũng giảm hơn 4% xuống dưới 84 đô la/thùng đối với các lô giao tháng 8.
Cả hai chỉ số giá dầu đều được giao dịch ở mức khoảng 70 đô la hoặc thấp hơn trước khi chiến tranh bắt đầu, nhưng đã tăng vọt lên trên 110 đô la tại một số thời điểm trong suốt cuộc chiến.
[CBSNews: Stocks climb, oil falls after Iran agreement]
11. Tổng thống Iran gọi việc chấm dứt chiến tranh là “bước đi quan trọng”, nhưng “vẫn sẵn sàng cho mọi kịch bản”.
Tổng thống Iran hôm thứ Ba cảnh báo rằng một thỏa thuận cuối cùng để chấm dứt chiến tranh vẫn chưa đạt được và dường như ông vẫn để ngỏ khả năng hành động quân sự nếu không đạt được thỏa thuận đó, nói rằng bản ghi nhớ hiện tại chỉ là một “bước quan trọng”.
“Chúng ta đã đạt được một bước quan trọng để chấm dứt chiến tranh và bắt đầu đàm phán, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, và chúng ta sẵn sàng cho mọi kịch bản”, Tổng thống Masoud Pezeshkian nói với hãng thông tấn nhà nước bán chính thức Tasnim.
Tổng thống Trump hôm thứ Ba phát biểu tại hội nghị G7 rằng ông nghĩ vòng đàm phán tiếp theo với Iran có thể “diễn ra khá nhanh... cũng có thể kéo dài hơn, nhưng có thể diễn ra nhanh chóng.”
Thỏa thuận hiện tại, dự kiến được ký kết vào thứ Sáu tại Thụy Sĩ, dường như quy định 60 ngày để đàm phán một thỏa thuận cuối cùng, bao gồm cả những gì sẽ xảy ra với chương trình hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, nội dung chính xác của bản ghi nhớ vẫn chưa được công bố.
Iran đã cảnh báo Mỹ và Israel rằng các cuộc tấn công tiếp theo ở Li Băng sẽ vi phạm thỏa thuận hiện hành, một điểm bất đồng rõ ràng giữa Israel và Iran. Israel tuyên bố sẽ tiếp tục hiện diện ở miền nam Li Băng và bảo lưu quyền tự vệ.
[CBSNews: Iranian president calls stop to war “important step,” but “remain ready for any scenario”]
12. Đảng Dân chủ chỉ trích mạnh mẽ thỏa thuận với Iran, yêu cầu Tổng thống Trump công bố văn bản ghi nhớ.
Thượng Nghị Sĩ Chuck Schumer giận dữ nói rằng ông đã chán ngấy việc chính quyền Trump liên tục tuyên bố chiến tranh Iran đã kết thúc và yêu cầu tổng thống công bố nội dung bản ghi nhớ thỏa thuận.
“Đã hai ngày kể từ khi Tổng thống Trump tuyên bố ông đã đạt được một thỏa thuận hòa bình, theo cách nói thông thường, với Iran, nhưng ông vẫn chưa công bố bất kỳ chi tiết nào về thỏa thuận này”, lãnh đạo đảng Dân chủ nói với các phóng viên tại Đồi Capitol.
“ Tôi kêu gọi Tổng thống Trump hãy lập tức thông báo cho người dân Mỹ về nội dung của thỏa thuận của ông ta. Ông ta cần phải ngừng giữ bí mật với người dân Mỹ sau hơn 100 ngày đổ máu.”
Thượng Nghị Sĩ đảng Dân chủ bang Connecticut, Chris Murphy, đặc biệt bức xúc về cuộc chiến tranh với Iran, gọi đó là một “thảm họa”.
“Tổng thống không muốn các bạn xem bản thỏa thuận này, bởi vì về cơ bản nó là bản đánh giá về mức độ thảm họa của cuộc chiến này,” Thượng Nghị Sĩ nói.
Tổng thống Trump hôm thứ Ba cho biết ông sẽ công bố nội dung thỏa thuận vào thứ Sáu, khi lễ ký kết dự kiến diễn ra, nói rằng ông muốn “thảo luận trong một bối cảnh chính thức” trước khi công bố.
“Tôi không chỉ công bố nó, mà có lẽ tôi còn tổ chức một cuộc họp báo và đọc từng chữ một cho các bạn nghe, để báo chí đưa tin chính xác”, Tổng thống Trump nói với các phóng viên tại hội nghị G7.
[CBSNews: Democrats lash out at Iran deal, demand Trump release text of memorandum of understanding]
13. Đài truyền hình nhà nước Iran đưa tin cuộc phong tỏa hải quân của Mỹ tại eo biển Hormuz bắt đầu được dỡ bỏ.
Đài truyền hình nhà nước Iran đưa tin hôm thứ Ba rằng lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ đối với các cảng và tàu thuyền của Iran dường như đang được dỡ bỏ.
“Hôm nay là một ngày đầy biến động ở eo biển Hormuz, Vịnh Ba Tư và bờ biển Biển Makran,” một phóng viên của đài IRIB cho biết. “Dựa trên các đánh giá thực địa của tôi từ các cơ quan hàng hải, một số bên tham gia thương mại hàng hải và các nguồn tin quân sự, có những dấu hiệu cho thấy việc dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân đang được tiến hành.”
Phóng viên cho biết ba tàu chở dầu của Iran và hai tàu khác chở hàng hóa thiết yếu đang di chuyển từ Ấn Độ Dương về phía Iran.
Ít nhất một tàu chở dầu thuộc sở hữu của chính phủ Iran, vốn chịu lệnh trừng phạt của Mỹ, đã vượt qua đường ranh giới phong tỏa của Mỹ ở Vịnh Oman hôm thứ Ba, theo dữ liệu công khai được trang web theo dõi MarineTraffic.com cung cấp.
[CBSNews: Iranian state TV reports U.S. naval blockade in Strait of Hormuz starting to lift]
14. Tổng thống Zelenskiy cho biết Ukraine đang xin giấy phép của Mỹ để sản xuất hỏa tiễn chống đạn đạo.
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy cho biết sau cuộc hội đàm với Tổng thống Donald Trump rằng Ukraine đang tìm kiếm sự chấp thuận của Mỹ để tự sản xuất các hệ thống phòng thủ hỏa tiễn đạn đạo và hỏa tiễn đánh chặn trong nước.
Phát biểu với các phóng viên sau cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Nhóm G7 hôm thứ Ba, Tổng thống Zelenskiy cho biết vấn đề này đã được thảo luận trực tiếp với Tổng thống Trump bên lề hội nghị thượng đỉnh tại Pháp.
Tổng thống Zelenskiy nói: “Các nhóm của chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc về vấn đề này. Cầu mong lần này chúng ta sẽ thành công trong việc xin được giấy phép sản xuất các hệ thống phòng thủ hỏa tiễn và hỏa tiễn cần thiết.”
Tuy nhiên, ông không tiết lộ những hệ thống nào đang được thảo luận.
Vấn đề này nằm trong số các chủ đề chính của ngày thứ hai hội nghị thượng đỉnh, nơi Tổng thống Zelenskiy tham gia phiên thảo luận mang tên “Xây dựng hòa bình và an ninh cho Ukraine và Âu Châu”.
Những phát biểu này được đưa ra khi Tổng thống Zelenskiy mô tả sự ủng hộ rộng rãi từ các nhà lãnh đạo G7 dành cho Ukraine, cùng với những cam kết mới nhằm tăng cường khả năng phòng không của nước này.
Tổng thống Zelenskiy cho biết tất cả các nước G7 đều lên án các cuộc tấn công mới nhất của Nga vào cơ sở hạ tầng dân sự và bày tỏ sự ủng hộ việc gia tăng áp lực lên Mạc Tư Khoa.
“Ai cũng tin rằng chiến tranh phải chấm dứt,” ông nói. “Ai cũng thấy rằng Nga không hề muốn kết thúc chiến tranh và chỉ đang chơi trò chơi mà thôi.”
Lãnh đạo Ukraine cho biết thêm rằng các cuộc thảo luận tập trung chủ yếu vào việc mở rộng mạng lưới phòng không của Ukraine, bao gồm các hệ thống bổ sung và hỏa tiễn đánh chặn.
Ông nói: “Tất cả các nước G7 sẽ cùng nhau nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ của chúng ta”.
Tổng thống Zelenskiy cho biết Tổng thống Trump đã phản hồi tích cực về yêu cầu bổ sung hỏa tiễn cho hệ thống Patriot, nhưng chưa công khai xác nhận rằng quyết định cuối cùng đã được đưa ra.
Trả lời báo chí bên lề hội nghị thượng đỉnh, Tổng thống Zelenskiy lưu ý rằng một trong những thách thức chính vẫn là năng lực sản xuất hạn chế đối với loại hỏa tiễn này.
“Trước hết, ông ấy [Tổng thống Trump] rất lạc quan về việc họ có thể giúp chúng ta nhiều hơn về hỏa tiễn,” Tổng thống Zelenskiy nói. “Và đây thực sự là một thách thức lớn, bởi vì sản lượng không đáp ứng đủ nhu cầu của chúng ta. Việc sản xuất diễn ra ở Mỹ.”
Hỗ trợ thêm
Ngoài viện trợ quân sự, Tổng thống Zelenskiy đã vạch ra những gì ông mô tả là “gói cứu trợ mùa đông” trong tương lai, được thiết kế để giúp Ukraine vượt qua một mùa sưởi ấm khác trong bối cảnh Nga tiếp tục tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng.
Đề xuất này bao gồm kinh phí cho việc bảo vệ vật lý các cơ sở năng lượng, mở rộng phạm vi phòng không và cung cấp khẩn cấp dầu diesel, xăng và khí đốt tự nhiên trong trường hợp xảy ra các cuộc tấn công tiếp theo vào lĩnh vực năng lượng của Ukraine.
Tổng thống Zelenskiy nói: “Nếu chiến tranh chưa kết thúc trước mùa đông và tình trạng thiếu hụt xảy ra, tất cả các đối tác của chúng ta sẽ hỗ trợ chúng ta”.
Ông cho biết thêm rằng các nhà lãnh đạo từ Canada, Đức, Nhật Bản và các quốc gia khác đã bày tỏ sự ủng hộ đối với sáng kiến này.
Tổng thống Zelenskiy cũng cho biết các quan chức Liên Hiệp Âu Châu đã tái khẳng định sự ủng hộ đối với nỗ lực gia nhập của Ukraine và bày tỏ tin tưởng rằng các cuộc đàm phán gia nhập sẽ tiếp tục bất chấp cuộc chiến đang diễn ra.
Tổng thống Zelenskiy nói: “Mọi người đều thừa nhận rằng Ukraine hoàn toàn xứng đáng được mở các nhóm đàm phán”.
Tổng thống cũng nhấn mạnh sự quan tâm ngày càng tăng của quốc tế đối với năng lực tác chiến bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine, cho biết Kyiv và Ottawa đang làm việc về một thỏa thuận tiềm năng về “máy bay điều khiển từ xa”.
Tổng thống Zelenskiy nói: “Chúng ta đã thấy các biện pháp trừng phạt tầm xa của chúng ta đang ảnh hưởng đến Nga như thế nào”, đề cập đến các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Nga. “Họ đang gặp phải những vấn đề nghiêm trọng.”
Những phát biểu của ông được đưa ra trong bối cảnh một trong những công ty dầu khí lớn nhất của Nga, Tatneft, đã áp dụng các giới hạn tạm thời về việc mua nhiên liệu tại các trạm xăng trên khắp cả nước sau nhiều tháng Ukraine tấn công vào ngành lọc dầu của Nga.
Trong khi Điện Cẩm Linh tiếp tục bác bỏ các lời kêu gọi ngừng bắn, Tổng thống Zelenskiy cho biết các nhà lãnh đạo G7 nhìn chung đồng ý rằng Mạc Tư Khoa phải đối mặt với áp lực gia tăng nếu từ chối chấm dứt chiến tranh.
“Ai cũng nhận thấy rằng Nga cần phải chấm dứt cuộc chiến này một cách khẩn cấp,” ông nói. “Nếu không, sự ủng hộ dành cho Ukraine sẽ chỉ ngày càng tăng lên.”
[Kyiv Post: Zelensky Says Ukraine Seeking US License to Produce Anti-Ballistic Missiles]