
Bình luận của Đức ông Roger Landry, trên National Catholic Register ngày 4 tháng 1 năm 2026:
Năm Thánh Hy Vọng sẽ kết thúc khi Đức Giáo Hoàng Leo đóng Cửa Thánh tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô vào ngày 6 tháng 1. Giờ là cơ hội để chúng ta bắt đầu đánh giá những thành công đáng chú ý và những cơ hội bị bỏ lỡ của nó.
Thành công lớn đầu tiên là nó đã cho Giáo Hội Công Giáo một năm để tập trung vào nhân đức đối thần dễ bị lãng quên nhất. Nếu “đức tin, đức cậy và đức mến vẫn còn”, như Thánh Phaolô khẳng định (1 Cô-rinh-tô 13:13), thì hy vọng sẽ tồn tại một cách mong manh nhất.
Hầu hết các Kitô hữu dễ dàng hiểu đức tin là sự tin tưởng vào Thiên Chúa dẫn đến sự tin tưởng vào những gì Người đã làm, đã nói và đã hứa. Tương tự, dù khó sống theo, nhưng không khó để hiểu ý nghĩa của việc yêu thương Chúa và tha nhân.
Mặt khác, hy vọng thì ít người có thể định nghĩa được. Nếu Thánh Phêrô kêu gọi chúng ta “luôn sẵn lòng giải thích cho bất cứ ai hỏi về lý do của niềm hy vọng của anh em” (1 Phêrô 3:15), thì điều quan trọng là phải biết hy vọng là gì, tại sao nó hợp lý, và làm thế nào để diễn đạt nó, trong mọi hoàn cảnh, cho tất cả mọi người. Năm Thánh đã tạo cơ hội cho sự rõ ràng hơn về thần học, thực hành nhân đức này một cách nhất quán hơn, và một bối cảnh để chúng ta đưa ra lý do cho niềm hy vọng của mình cho bất cứ ai lắng nghe.
Giáo lý Công Giáo định nghĩa hy vọng là “nhân đức đối thần mà nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và sự sống đời đời như hạnh phúc của mình, đặt niềm tin vào những lời hứa của Chúa Kitô và không dựa vào sức riêng của mình, mà dựa vào sự trợ giúp của ân sủng Chúa Thánh Thần” (1817). Đó là một sức mạnh đạo đức do Chúa ban cho, nhờ đó chúng ta liên hệ với Chúa, khao khát Người và Nước Trời của Người và mong muốn được sống với Người mãi mãi.
Niềm hy vọng giúp chúng ta đặt trọn đời mình vào những gì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về thế giới này và thế giới sau, và sống không phải dựa vào trí tuệ và khả năng của riêng mình, mà là sống trong sự phụ thuộc ngoan ngoãn và hiệp thông với Chúa Thánh Thần và những ân huệ của Người.
Định nghĩa đó dẫn chúng ta đến hoa trái thứ hai của Năm Thánh, đó là sự đáp trả đáng tin cậy của Giáo hội đối với cuộc khủng hoảng tuyệt vọng hiện đại. Rất nhiều người đang sống không có hy vọng bởi vì, giống như người Ê-phê-sô xưa, họ đang sống không có Chúa trong thế giới này (Ê-phê-sô 2:12).
Chúng ta thấy cuộc khủng hoảng này trong việc thúc đẩy hợp pháp hóa tự sát và an tử; trong dịch bệnh nghiện fentanyl, cần sa, rượu, phim khiêu dâm, trò chơi điện tử và những nỗ lực khác để trốn tránh cuộc sống con người; trong việc mất đi mong muốn thực hiện những cam kết trọn đời hoặc truyền lại sự sống vì sự tuyệt vọng về tương lai; và trong sự bùng nổ của sự cô đơn, cô lập, sợ hãi, lo lắng và thiếu ý nghĩa đang hoành hành con người ở mọi thế hệ, đặc biệt là rất nhiều người trẻ. Một cuộc khảo sát năm 2023 đối với học sinh trung học Hoa Kỳ do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh thực hiện cho thấy 42% (và 57% là nữ sinh) cho biết họ cảm thấy tuyệt vọng hoặc buồn bã dai dẳng, 18% đã lên kế hoạch cụ thể về cách kết thúc cuộc đời mình trong năm trước đó, và 10% thực sự đã cố gắng thực hiện kế hoạch đó — và may mắn thay đã thất bại. Năm Thánh đã mang đến cho Giáo hội cơ hội để nêu bật lý do cho niềm hy vọng của chúng ta trước đại dịch tuyệt vọng này.
Thứ ba, Đại lễ đã mang đến cho Giáo hội cơ hội để củng cố cánh chung học của mình, vốn đã suy yếu trong vài thập niên qua, với những hậu quả tai hại đối với đời sống và sứ mệnh của Giáo hội. Cốt lõi của vấn đề hiện đại về sự thiếu ý nghĩa là niềm tin rằng cuộc sống và những lựa chọn của chúng ta trên thế giới này không có nhiều ý nghĩa. Có một quan niệm phổ biến và độc hại cho rằng thực sự không quan trọng việc chúng ta tin vào Chúa Kitô hay kêu gọi đóng đinh Người, theo Người hay phản bội Người, thờ phượng Chúa hay thần tượng, nói thật hay nói dối, hy sinh vì người khác hay hy sinh người khác vì cái tôi của mình, bố thí hay trộm cắp, cứu sống hay phá thai, chung thủy với vợ chồng hay bỏ rơi họ. Lạc giáo này gợi ý, há chúng ta, về cơ bản, há tất cả chúng ta không kết cục ở cùng một “nơi tốt đẹp hơn” sau khi chết đó sao?
Niềm hy vọng, với trọng tâm là Nước Trời và điều mà Đức Benedict XVI gọi là “niềm hy vọng lớn lao” về sự sống đời đời, đã giúp chúng ta nhớ đến sự kết thúc của cuộc sống con người và những con đường mà Chúa Giêsu nói dẫn đến đó và không dẫn đến đó.
Trong sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng Phanxicô công bố Năm Thánh, ngài nói rằng niềm hy vọng Kitô giáo tìm thấy “nền tảng thiết yếu” của nó trong những lời “Tôi tin vào sự sống đời đời”, những lời này có ý nghĩa định hướng toàn bộ cuộc sống của người ta. Điều này mang lại ý nghĩa cho mọi lời nói, mọi quyết định của chúng ta. Mỗi khi chúng ta chọn sắp xếp cuộc sống của mình hướng về thiên đường, hướng về sự thánh thiện, về hạnh phúc vĩnh cửu, chúng ta chọn niềm hy vọng.
Thứ tư, Đại lễ đã thu hút hơn 30 triệu người đến Rome với tư cách là “những người hành hương của hy vọng” để tham dự các sự kiện khác nhau của Năm Thánh hoặc tự mình thực hiện nghi thức được ân xá qua Cánh cửa Năm Thánh mở rộng. Điều này tự nó đã là một lý do để hy vọng, bởi vì, bất chấp sự hỗn loạn kinh niên ở Rome, Rome, trái tim của Giáo hội, là một dịp gần gũi của ân sủng: Người ta được đắm mình trong Vẻ đẹp đã tuôn chảy từ đức tin Công Giáo qua nhiều thế kỷ và, trong khi xếp hàng chờ đợi, người ta không thể tránh khỏi việc gặp gỡ nhiều người có đức tin sống động, định hình cuộc sống và tràn đầy niềm vui.
Thành quả thứ năm là việc bầu chọn Đức Giáo Hoàng Leo XIV. Vị giáo hoàng đầu tiên sinh ra tại Hoa Kỳ không chỉ mang lại sự tươi mới và đổi mới cho chức vụ Thánh Phêrô và làm tăng số lượng người tham dự các sự kiện của giáo hoàng, mà mỗi cuộc bầu cử giáo hoàng đều chứng tỏ niềm tin của Giáo hội vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Những tiếng reo hò lớn nhất của Năm Thánh đã vang lên khi Hồng Y Dominique Mamberti tuyên bố vào ngày 8 tháng 5, “Tôi loan báo cho các bạn niềm vui lớn lao: Chúng ta đã có một vị giáo hoàng!” rất lâu trước khi bất cứ ai biết danh tính của vị giáo hoàng mới. Chính Thiên Chúa, Đấng luôn ban cho một Đức Thánh Cha làm đại diện trần gian của Chúa Kitô Con Người, là Đấng mà Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần và Giáo hội đều mời gọi chúng ta tin tưởng và hy vọng.
Bên cạnh những thành quả tích cực này, có một số điều lẽ ra có thể tốt hơn nhiều.
Thứ nhất, trong nhiều lĩnh vực, Năm Thánh vẫn nằm ở rìa đời sống Công Giáo. Mặc dù Năm Thánh được cho là sẽ ảnh hưởng đến mọi hoạt động của Giáo hội trong thời gian đặc biệt đó, nhưng vẫn có nhiều giáo xứ, trường học Công Giáo và các hoạt động tông đồ không cho thấy dấu hiệu nào cho thấy Giáo hội đang cử hành một năm thánh. Ngay cả trong thời đại thông tin khi mà các tín hữu Công Giáo dễ dàng biết được những gì đang xảy ra trong Giáo hội hoàn cầu, nhiều người vẫn không biết đến những ân sủng đó trừ khi giám mục, linh mục quản xứ, tuyên úy, hiệu trưởng và các nhà lãnh đạo Công Giáo khác thực sự suy nghĩ cùng với Giáo hội và cố gắng giúp những người được giao phó cho họ suy nghĩ và cầu nguyện cùng với Giáo hội.
Một ví dụ điển hình là các bài giáo lý do Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Leo giảng dạy trong suốt Năm Thánh. Những bài giảng này hầu như không có tác động nào đến Giáo hội, ngay cả đối với những người tham dự các buổi tiếp kiến riêng lẻ mà chúng được giảng dạy.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt đầu vào ngày 29 tháng 5 năm ngoái với nhiều bài học khác nhau về cách Chúa Thánh Thần “hướng dẫn dân Chúa đến với Chúa Giêsu, niềm hy vọng của chúng ta”, đưa chúng ta đi qua công cuộc tạo dựng, Kinh Thánh, cầu nguyện, cuộc đời của Chúa Giêsu và các bí tích, nhưng nỗ lực truyền thông của Giáo hội để đưa điều này đến các vùng ngoại vi lại rất kém hiệu quả. Điều tương tự cũng xảy ra với chu kỳ về “Chúa Giêsu Kitô, Niềm Hy Vọng của chúng ta” do Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng vào ngày 18 tháng 12 năm ngoái và được Đức Giáo Hoàng Leo kết thúc vào ngày 8 tháng 10; cũng như vậy với bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Leo về niềm hy vọng mà chúng ta nhận được từ “ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô soi rọi những thách thức của thế giới đương thời” kể từ ngày 15 tháng 10; và cũng tương tự với các buổi tiếp kiến Thứ Bảy trong Năm Thánh, mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt đầu vào ngày 11 tháng 1 và Đức Giáo Hoàng Leo tiếp tục vào ngày 14 tháng 6, nói chuyện với các tín hữu hành hương về nhiều khía cạnh của niềm hy vọng và những nhân vật minh họa cho những khía cạnh đó.
Trong thời điểm mà người Công Giáo cần được củng cố trong việc làm chứng cho niềm hy vọng, thật đáng thất vọng khi Giáo hội, đặc biệt là Vatican, đã không học được cách truyền đạt hiệu quả và làm cho thông điệp của mình có ý nghĩa.
Thất bại cuối cùng liên quan đến những chiêu trò của Năm Thánh, như logo cầu vồng mơ hồ hoặc linh vật hoạt hình ngớ ngẩn Luce. Giáo hội sở hữu di sản vẻ đẹp vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới và nên sử dụng nó như một nguồn cảm hứng cho những người khao khát Chúa qua sự siêu việt. Dù có thiện chí đến đâu, bất cứ khi nào đức tin bị đơn giản hóa, điều đó cho thấy đức tin ấy còn non nớt, chứ không phải là thánh thiện, và mục tiêu thực sự của Giáo hội không phải là giúp mọi người trưởng thành trọn vẹn trong Chúa Kitô.
Tuy nhiên, Năm Thánh vẫn chưa kết thúc, và những ngày cuối cùng này là cơ hội để chúng ta kết thúc năm thánh một cách mạnh mẽ. Có lý do tại sao Năm Thánh bắt đầu vào đêm Giáng sinh năm ngoái và sẽ kết thúc vào Lễ Hiển Linh, bởi vì niềm hy vọng gắn liền sâu sắc với mùa Vọng và mùa Giáng sinh.
Khi Giáo hội suy gẫm về ý nghĩa của sự giáng sinh của Chúa Kitô, Niềm Hy vọng của chúng ta, tại Bêlem, Giáo hội có thể rút ra niềm hy vọng lớn lao hơn nữa từ sự đồng hành liên tục của Người trong cuộc hành trình Thánh Thể của Giáo hội qua thời gian và khơi dậy hơn nữa khát vọng của chúng ta về sự viên mãn của niềm hy vọng lớn lao của chúng ta vào cuối thời gian.