1. 40 Bài Tĩnh Tâm Mùa Chay: Thứ Năm, Tuần Thứ 2 Mùa Chay, Ngày 5 Tháng 3 Năm 2026

Gr 17:5-10

Tv 1:1-4, 6

Lc 16:19-31

Với niềm hy vọng nơi Thiên Chúa, người ấy giống như một cái cây, đâm rễ xuống dòng nước (Gr 17:7-8)

Bài Phúc Âm hôm nay thách thức chúng ta tự đánh giá một cách trung thực những điểm mù của mình. Chúng ta không biết suy nghĩ nội tâm nào đã khiến ông phú hộ có thể ngày nào cũng đi ngang qua Lagiarô mà không để ý. Có lẽ ông ta đang vội vã đến một cuộc hẹn, hoặc đang lo lắng về những vấn đề quan trọng, và cho rằng người khác sẽ lo liệu việc đó.

Câu chuyện ngụ ngôn cho thấy rõ rằng không ai ở trên trời hay dưới địa ngục có chút ấn tượng nào với lý lịch của người giàu. Cả của cải lẫn danh vọng của ông ta đều không thể mang theo khi bước qua bức màn tử thần. Liệu tôi có bao giờ dừng lại để suy ngẫm về những ưu tiên của mình dưới ánh sáng của cõi vĩnh hằng không?

Bài đọc thứ nhất còn đặt ra cho chúng ta những thách thức lớn hơn nữa. Nó so sánh người “dựa vào những điều thuộc về xác thịt” (Gr 17:5) với một bụi cây cô đơn trong vùng đất hoang – mù quáng trước những phước lành đích thực của cuộc sống. Chúng ta có thể cho rằng sự bận rộn của mình tập trung vào nhu cầu của người khác. Nhưng nếu nó xuất phát từ khuynh hướng tự dựa vào bản thân, nó sẽ khiến chúng ta bị cô lập và tách rời khỏi dòng nước của sự quan phòng thiêng liêng, và chúng ta có nguy cơ trở nên lo lắng và oán giận, ngay cả trong cuộc sống này.

Hôm nay, chúng ta hãy tìm một khoảng tĩnh lặng nhỏ và cho phép Chúa soi sáng những bí mật sâu kín trong lòng mình – để Ngài chỉ cho chúng ta một điểm mù nhỏ mà Ngài đang mời gọi chúng ta từ bỏ những định kiến để rồi chúng ta cho thấy mạo hiểm tin tưởng Ngài. Nguyện xin Ngài gieo trồng chúng ta trong dòng suối tình yêu của Ngài, trong đời này và đời sau.

Lạy Cha, con tin vào tình yêu của Cha dành cho con. Xin Cha hãy kéo con ra khỏi bản ngã của mình và dẫn con vào cuộc phiêu lưu của tình yêu hi sinh. Amen.

Sr. Susanna Edmunds OP


Source:VietCatholic

2. Ngoại trưởng Cuba gặp Đức Giáo Hoàng.

“Tôi vô cùng biết ơn Đức Thánh Cha Lêô XIV vì đã dành cho tôi vinh dự được ngài tiếp với tư cách là Đặc phái viên của Tổng thống Cộng hòa Cuba,” ông Rodríguez cho biết như trên hôm Thứ Tư, 04 Tháng Ba.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tiếp Bruno Rodríguez Parrilla, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Cuba, trong buổi tiếp kiến ngày 28 tháng 2.

Theo thông lệ, Vatican không công bố chi tiết cuộc gặp, diễn ra trong bối cảnh Mỹ phong tỏa nguồn cung nhiên liệu cho quốc gia cộng sản này.

Cho đến nay, người ta không biết Ngoại trưởng Cuba đến gặp Đức Thánh Cha Lêô XIV vì mục đích gì.

Tổng thống Trump hôm thứ Sáu đã gợi ý rằng Hoa Kỳ có thể theo đuổi điều mà ông mô tả là “Friendly Takeover”, nghĩa là một “cuộc tiếp quản một cách hữu nghị đối với Cuba”, nói rằng chính quyền của ông đang tham gia vào các cuộc đàm phán cao cấp với chính phủ Cuba.

Trả lời phóng viên khi rời Tòa Bạch Ốc để đến Texas phát biểu, Tổng thống Trump cho biết Ngoại trưởng Marco Rubio đang trực tiếp đàm phán với các quan chức Cuba.

Tổng thống Trump nói: “Chính phủ Cuba đang đàm phán với chúng tôi”, đồng thời cho biết thêm rằng đất nước này đang phải đối mặt với khó khăn kinh tế nghiêm trọng.

Tổng thống Trump không giải thích rõ ông muốn nói gì về một “cuộc tiếp quản một cách hữu nghị đối với Cuba”, nhưng nói rằng sau nhiều thập niên quan hệ căng thẳng, những diễn biến có thể xảy ra sẽ “rất tích cực” đối với những người Cuba lưu vong sống ở Hoa Kỳ. Trước đó, ông từng ám chỉ rằng Cuba đang trên bờ vực sụp đổ kinh tế sau những hành động của chính quyền ông chống lại đồng minh của họ, Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro.

Các nhà lãnh đạo Cuba lưu vong sống ở Hoa Kỳ tỏ ra hào hứng trước triển vọng một “cuộc tiếp quản một cách hữu nghị đối với Cuba”. Tuy nhiên, nhiều người nhận thấy rằng tin tức ấy quá tốt lành đến mức khó tin.


Source:Catholic World News

3. Nhật ký trừ tà #385: Những kẻ khủng bố đơn độc của Satan

Tôi ngần ngại bước vào cuộc tranh luận gay gắt và đầy mâu thuẫn này, nhưng có một điều đã khiến tôi trăn trở khá lâu. Là một linh mục trừ tà và là một nhà tâm lý học được cấp phép, tôi đã nghiên cứu hiện tượng “khủng bố đơn độc”, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Đó là những kẻ không chính thức thuộc bất kỳ nhóm khủng bố nào, mà chủ yếu thực hiện các hành vi khủng bố một mình. Mặc dù mỗi kẻ đều khác nhau và không thể gói gọn trong một khuôn mẫu nhất định, nhưng dường như có một số đặc điểm tương đồng nổi bật đối với người làm công tác trừ tà...

Một lần nữa, những tên khủng bố đơn độc này không phải tất cả đều giống nhau, và không phải tên nào cũng có đầy đủ những đặc điểm này, nhưng xét về tổng thể, người ta thường thấy những đặc điểm này xuất hiện.

Thứ nhất: Không có chẩn đoán tâm lý chính thức. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết những kẻ khủng bố này, gần như luôn là nam giới, không mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng. Có thể dễ dàng bác bỏ hiện tượng này như là kết quả của bệnh tâm thần, nhưng hầu hết không dễ dàng phù hợp với bất kỳ chẩn đoán nào như vậy. Hơn nữa, có rất nhiều người mắc bệnh tâm thần trên thế giới này và họ không thực hiện các hành vi khủng bố. Thay vào đó, kẻ khủng bố đơn độc thực sự có một kế hoạch bạo lực “hợp lý” và thực hiện nó một cách “khôn ngoan”. Nó được suy nghĩ, lên kế hoạch và thực hiện. Đó không phải là một hành động bột phát, bốc đồng của một người đang lên cơn loạn thần kinh.

Thứ hai: Lý luận méo mó. Mặc dù không phải ai cũng có biểu hiện rõ ràng về bệnh tâm thần, nhưng suy nghĩ của họ bị lệch lạc và méo mó. Khi đọc các bản tuyên ngôn của họ, thường thấy một mô hình tư duy phức tạp và kỳ lạ. Nhiều người trở nên cực đoan trên mạng và trong sự cô lập, họ đã nghĩ ra một lý lẽ méo mó để biện minh cho hành vi bạo lực của mình.

Thứ ba: Bị cô lập về mặt xã hội. Nhiều người bị cô lập về mặt xã hội và một số cảm thấy thiếu tự tin trong giao tiếp xã hội. Trong sự cô lập đó, khi không có sự gắn kết với thế giới thực, tâm trí của họ dễ bị cực đoan hóa hơn. Đây là một đặc điểm quan trọng. Sự cô lập sinh ra nhiều vấn đề.

Thứ tư: Tự cao tự đại, kiêu ngạo, thiếu đồng cảm. Nhiều người thể hiện những đặc điểm nổi bật của chứng tự cao tự đại. Họ chắc chắn rất ích kỷ và thiếu đồng cảm. Việc giết hại hàng chục người vô tội mà không quan tâm đến sự an nguy của họ và nỗi đau khổ khủng khiếp mà gia đình và bạn bè họ phải chịu đựng là vô cùng ích kỷ. Những tuyên ngôn trực tuyến của họ thường rất khoa trương. Họ tin rằng họ đang đưa ra một thông điệp cho cả thế giới.

Thứ năm: Tổn thương tiềm ẩn và cảm giác bị tổn thương. Những người ái kỷ thường có một “tổn thương ái kỷ” tiềm ẩn mà họ che đậy bằng sự tự cao tự đại của chính mình. Như một nghiên cứu đã chỉ ra, những kẻ khủng bố này có “cảm giác tự cho mình là quan trọng một cách thái quá”. Nhiều kẻ khủng bố đơn độc cảm thấy mình là nạn nhân. Họ bị tổn thương về mặt cảm xúc và cuộc sống của họ dường như không quan trọng và vô nghĩa. Suy nghĩ của họ tập trung vào một lý tưởng và tầm quan trọng của bản thân được gói gọn trong hành động khủng bố và tuyên ngôn của họ.

Thứ sáu: Bộc lộ sự giận dữ và bạo lực. Mặc dù không phải lúc nào cũng thể hiện ra bên ngoài, nhưng tôi tin rằng việc bắn người vô tội thường là một hành vi bạo lực xuất phát từ sự giận dữ bên trong. Chắc chắn đó không phải là một hành động hòa bình. Gây ra sự tàn phá và chết chóc như vậy cho thấy sự bạo lực và giận dữ. Có vẻ như những hành vi như vậy thường do nam giới thực hiện, những người có nhiều khả năng bộc lộ sự giận dữ bên trong một cách bạo lực hơn là hướng nó vào bên trong thành trầm cảm, lo âu hoặc các rối loạn tâm lý khác.

Với tư cách là một người trừ tà, khi nhìn vào những triệu chứng này, tôi thấy có điều gì đó rất rõ ràng. Những đặc điểm này là điển hình của ma quỷ và, tất nhiên, chính là Satan. Satan tự coi mình là nạn nhân bị oan ức. Hắn đổ lỗi cho Chúa về hoàn cảnh khốn khổ của mình. Hắn bị nhấn chìm trong cơn thịnh nộ và khát khao trả thù. Logic méo mó của hắn thật kỳ quái. Hắn hướng cơn thịnh nộ bên trong mình vào người khác với mong muốn hủy diệt. Hắn không quan tâm đến sự tàn phá mà mình gây ra cho người khác. Trên thực tế, gây đau khổ cho người khác là một phần trong kế hoạch của hắn; hắn thích thú với sự đau khổ của người khác. Hắn là kẻ ái kỷ độc ác tột cùng.

Chắc chắn rồi, những kẻ khủng bố đơn độc đang làm việc cho Satan. Chúng là tay sai của hắn, dù chúng có biết hay không. Và hành động của chúng chứng minh điều đó. Xông vào trường học và sát hại những đứa trẻ vô tội là một hành động độc ác tột cùng. Chúng ta cần gọi đúng tên nó. Và một phần giới truyền thông đang bắt đầu gọi nó như vậy. Họ đang bắt đầu nhận ra rằng những hành động như vậy là ÁC QUỶ.

Điều này không có nghĩa là những kẻ khủng bố này nhất thiết bị quỷ ám. Người ta không cần bị quỷ ám mới làm theo ý muốn của Satan. Nhưng chắc chắn Ác Quỷ đang thì thầm vào tai họ và xúi giục họ thực hiện những hành động bạo lực như vậy. Sự leo thang nhanh chóng của những hành động này trong những năm gần đây cho thấy ảnh hưởng của Satan, ít nhất là đối với một bộ phận dân chúng, đang gia tăng. Những hành động bạo lực này là triệu chứng của một bộ phận xã hội đã rơi vào tầm ảnh hưởng của Satan.

Tuy nhiên, điều quan trọng là không nên phủ nhận trách nhiệm của con người và chỉ đổ lỗi hoàn toàn cho Satan. Cuối cùng, Satan không thể khiến chúng ta phạm tội. Chúng ta vẫn giữ ý chí tự do và phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của chính mình. Con rắn đã thì thầm những lời dối trá với Eva, nhưng bà vẫn cầm lấy và ăn trái cấm.

Nếu giả thuyết của tôi là đúng, thì khi tỷ lệ người theo đạo giảm, tỷ lệ các hành vi bạo lực liên quan đến Satan sẽ tăng lên. Nhưng tôi rất vui mừng trước sự gia tăng gần đây của đức tin trong thế hệ Z và tôi hy vọng rằng những lời cầu nguyện và đức tin của họ sẽ giúp ngăn chặn làn sóng bạo lực. Việc xác định những người có nguy cơ bạo lực là rất quan trọng. Có một số dấu hiệu cảnh báo, một vài dấu hiệu đã được nêu ở trên, có thể giúp các chuyên gia nhận biết vấn đề.

Xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, một đức tin sống động và một cộng đồng tín ngưỡng vững mạnh là những liều thuốc quan trọng chống lại chủ nghĩa khủng bố đơn độc. Cuối cùng, chỉ có một cách duy nhất để chiến thắng Sa-tan một cách thành công, đó là thông qua Thiên Chúa-Người Giêsu Kitô.


Source:Catholic Exorcism

4. Toàn văn: Bức thư chưa từng được công bố tiết lộ những suy tư cuối cùng của Đức Bênêđíctô XVI về cầu nguyện và tương lai của đức tin

Một bức thư chưa từng được công bố của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, được viết chỉ hơn một năm trước khi ngài qua đời, đã được phát hành trong một cuốn sách mới của Ý, mang đến cái nhìn sâu sắc về thần học và quan điểm của vị giáo hoàng quá cố về tương lai của đức tin vào những năm cuối đời.

Văn bản này xuất hiện trong cuốn “La fede del futuro” hay “Niềm tin của tương lai”, là phần thứ tư trong tuyển tập các tác phẩm chưa từng được công bố và khó tìm của Đức Giáo Hoàng Joseph Ratzinger, do nhà xuất bản Edizioni Cantagalli có trụ sở tại Siena phát hành. Loạt sách này được mở đầu bằng lời tựa của Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa thánh.

Đức Hồng Y Parolin viết rằng “chủ đề về tương lai ngày càng trở thành đối tượng suy tư thần học về đức tin, bởi vì không hề chắc chắn rằng nhân loại sẽ tiếp tục tin vào Chúa”. Ngài lưu ý rằng những mối quan tâm của Đức Ratzinger trong bài luận không chỉ giới hạn ở số phận của đức tin mà còn bao gồm “sự bất ổn và hỗn loạn đang lan tràn trên thế giới, vốn là nguyên nhân của sự mất hy vọng và nỗi sợ hãi lan rộng”. Ngài nhận thấy rằng câu hỏi về những gì sẽ xảy đến trong tương lai không chỉ giới hạn ở những người tin mà còn ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại.

Đề cập đến sự phát triển lịch sử tăng tốc chưa từng có trong những năm gần đây, Đức Ratzinger nhận xét rằng nhân loại đang phải đối mặt với “những khả năng cực kỳ lớn nhưng cũng với những nguy hiểm cực kỳ lớn”. Ngài nói “Tương lai không còn được đón chờ với hy vọng mà với sự lo lắng; nó thậm chí đã trở thành một cơn ác mộng đối với nhiều người”. Trong bối cảnh đó, ngài đặt câu hỏi liệu “đức tin còn có vai trò gì trong việc định hình thế giới ngày mai? Liệu Giáo hội có tiếp tục tồn tại?”

Bức thư chưa được công bố của Đức Bênêđíctô, đề ngày 27 tháng 4 năm 2021 tại Thành phố Vatican, có tựa đề “Lời giới thiệu: Suy nghĩ về cầu nguyện Kitô giáo” và trình bày một suy niệm ngắn gọn nhưng sâu sắc về mặt thần học về bản chất của cầu nguyện như một hành động tôn giáo cơ bản. Được viết trong giai đoạn cuối đời, văn bản này quay trở lại những chủ đề đã định hình công trình thần học của ngài trong nhiều thập niên, bao gồm Chúa Kitô là Đấng trung gian, tầm quan trọng của Thánh Thể và sự thanh tẩy dục vọng của con người.

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 bắt đầu bằng cách định nghĩa cầu nguyện một cách tổng quát là “hành động tôn giáo cơ bản” và “nỗ lực để thiết lập mối liên hệ cụ thể với Thiên Chúa”. Ngài ngay lập tức phân biệt lời cầu nguyện của Kitô giáo với các hình thức khác bằng cách khẳng định rằng nó được thực hiện “cùng với Chúa Giêsu Kitô và đồng thời cầu nguyện với Ngài”. Ngài viết rằng Chúa Kitô vừa là người vừa là Thiên Chúa và do đó “có thể là cây cầu, là người xây cầu, Đấng giúp vượt qua vực thẳm vô tận giữa Thiên Chúa và con người”.

Theo nghĩa này, ngài nói tiếp rằng Chúa Kitô là “khả năng hiện hữu của lời cầu nguyện” và cũng là “người hướng dẫn thực tiễn” của nó. Đức Bênêđíctô nhắc lại cảnh trong Phúc Âm, khi các môn đệ thấy Chúa Giêsu cầu nguyện, liền hỏi: “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Ngài lưu ý rằng họ biết ngay cả Gioan Tẩy giả cũng đã dạy các môn đệ mình cầu nguyện, nhưng Chúa Giêsu “gần gũi với Thiên Chúa hơn cả nhân vật tôn giáo vĩ đại nhất là Gioan Tẩy giả”. Từ đó, ngài rút ra hai đặc điểm cơ bản của lời cầu nguyện, đó là đặc điểm liên quan đến sự hiện hữu và đặc điểm liên quan đến nhận thức, đan xen trong một mối liên kết sâu sắc với Thiên Chúa, đó là việc ở cùng Ngài.

Khi bàn về những hình thức cầu nguyện mà ngài mô tả là sai lầm hoặc không đầy đủ, Đức Bênêđíctô nhắc lại lời tiên tri của Samuel: “Vâng lời thì tốt hơn là dâng tế lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ chiên đực” (1 Samuel 15:22). Ngài viết rằng sự liên hệ với Thập tự giá thể hiện rõ ràng trong suốt lời rao giảng của Chúa Kitô và rằng lời cầu nguyện của người Kitô hữu, kết hợp với Chúa Giêsu, không thể tách rời khỏi sự tự hiến của Ngài.

Ngài khẳng định rằng lời cầu nguyện của người Kitô hữu, trong chừng mực nó là lời cầu nguyện cùng với Chúa Kitô, “luôn luôn được neo giữ trong Bí tích Thánh Thể, dẫn đến Bí tích Thánh Thể và diễn ra trong đó”. Ngài viết rằng Bí tích Thánh Thể là “lời cầu nguyện được trọn vẹn bằng cả con người” và đại diện cho “sự tổng hợp quan trọng giữa nghi thức và sự thờ phượng đích thực”. Trong đó, Chúa Giêsu đã tuyên bố dứt khoát “không” đối với những lời nói suông và các lễ vật hiến tế bằng động vật, thay vào đó là “lời khẳng định ‘có’ vĩ đại của cuộc đời và cái chết của Ngài”.

Vì lý do này, Đức Bênêđíctô mô tả Thánh Thể vừa là “sự phê phán dứt khoát đối với tín ngưỡng” vừa là “tín ngưỡng theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này”. Ngài lưu ý rằng các Giáo phụ đã mô tả Thánh Thể, một mặt, như là sự chấm dứt của phong tục ngoại giáo, mặt khác, như là điều định nghĩa chính Kitô giáo là lời cầu nguyện. Ngài nói thêm: “Tôi tin rằng chúng ta cần suy ngẫm sâu sắc hơn nữa về sự đối lập cơ bản này.”

Bức thư tiếp tục nhấn mạnh tính thực tế trong lời dạy của Chúa Giêsu về cầu nguyện. Trích dẫn dụ ngôn về người bạn không chịu rời giường để cho bánh, Đức Bênêđíctô viết rằng cầu nguyện “luôn là sự vượt qua sự trì trệ của chúng ta, là điều tạo ra rất nhiều lý do để không đứng dậy”. Ngài nói rằng cầu nguyện “có nghĩa là chống lại sự trì trệ này của trái tim” và bao gồm sự khiêm nhường khi mang ngay cả “những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày” đến trước mặt Chúa và cầu xin sự giúp đỡ của Ngài.

Trong phần suy ngẫm cuối cùng, ngài đề cập đến những gì ngài gọi là thái độ phản đối đối với lời cầu nguyện thỉnh cầu, cụ thể là quan điểm cho rằng lời cầu nguyện chân chính chỉ nên bao gồm sự ca ngợi chứ không phải là những lời thỉnh cầu lặp đi lặp lại. Ngài viết rằng, quan điểm như vậy sẽ là dại dột nếu nó cho rằng Chúa không nên bận tâm đến nhu cầu của con người. Ngược lại, “chúng ta cần Chúa chính xác là để có thể sống cuộc sống hằng ngày của mình bắt đầu từ Ngài và hướng về Ngài”.

Ngài chỉ ra cấu trúc của Kinh Lạy Cha, bao gồm bảy lời cầu xin, như bằng chứng cho thấy việc cầu xin là yếu tố nội tại của lời cầu nguyện Kitô giáo. Ngài viết: “Cầu xin Chúa cũng có nghĩa là thanh tẩy những ước muốn của chúng ta để chúng ta có thể trình bày chúng trước mặt Chúa và để chúng được hòa nhập vào gia đình của Chúa Kitô”.

Việc công bố bức thư trong cuốn “La fede del futuro” mang đến cái nhìn cuối cùng về tâm linh của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 trong giai đoạn cuối đời, khi ngài, trong thời gian nghỉ hưu và sức khỏe yếu kém, vẫn giữ được sự sắc bén về trí tuệ. Toàn văn bức thư được đăng lại bên dưới với sự cho phép của nhà xuất bản Edizioni Cantagalli:

Những Suy Nghĩ Về Cầu Nguyện Của Đức Bênêđíctô XVI:

Nói chung, cầu nguyện là hành động tôn giáo cơ bản mà, theo một cách nào đó, là nỗ lực để thiết lập mối liên hệ cụ thể với Thiên Chúa. Tính đặc thù của cầu nguyện Kitô giáo nằm ở chỗ người ta cầu nguyện cùng với Chúa Giêsu Kitô và đồng thời cầu nguyện với Ngài.

Chúa Giêsu vừa là người vừa là Thiên Chúa và do đó có thể là cây cầu, là người xây cầu, là Đấng giúp vượt qua vực thẳm vô tận giữa Thiên Chúa và con người. Theo nghĩa này, nói chung, Chúa Kitô cũng là khả năng hiện hữu của cầu nguyện. Vì lý do đó, Ngài cũng là người hướng dẫn thực tiễn cho việc cầu nguyện. Đó là lý do tại sao các môn đệ của Ngài, những người đã thấy Ngài cầu nguyện, đã dâng lên Ngài lời thỉnh cầu này: “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Họ biết rằng Gioan Tẩy giả đã dạy các môn đệ của mình cầu nguyện, nhưng cũng biết rõ rằng Ngài gần gũi với Thiên Chúa hơn cả nhân vật tôn giáo vĩ đại nhất là Gioan Tẩy giả. Như vậy, hai đặc điểm cơ bản của cầu nguyện xuất hiện: đặc điểm liên quan đến hiện hữu và đặc điểm liên quan đến nhận thức. Chúng đan xen với nhau.

Nói chung, mối liên hệ sâu sắc với Thiên Chúa hệ tại ở việc sống bên cạnh Ngài. Trong trường dạy cầu nguyện của Chúa Giêsu, sự hiểu biết của chúng ta về Ngài ngày càng tăng lên, cũng như sự gần gũi của chúng ta với Ngài. Về vấn đề này, chúng ta cũng phải ghi nhớ sự phê phán của Chúa Giêsu đối với những cách cầu nguyện sai lầm hoặc không đầy đủ. Sự đối chiếu với Thập tự giá, thể hiện rõ ràng trong suốt lời rao giảng của Ngài và ngay cả trong những lời tiên tri đã đánh dấu nội dung của những lời tiên tri từ xa xưa cho đến Chúa Giêsu—”Vâng lời thì tốt hơn là dâng tế lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ chiên đực” (1 Sa-mu-ên 15:22)—đã quá rõ ràng.

Hơn nữa, lời cầu nguyện của Kitô giáo, trong chừng mực nó là lời cầu nguyện cùng với Chúa Giêsu Kitô, luôn luôn được neo giữ trong Bí tích Thánh Thể, dẫn đến Bí tích Thánh Thể và diễn ra trong đó. Bí tích Thánh Thể là lời cầu nguyện được thành toàn bằng toàn bộ con người của một người. Đó là sự tổng hợp quan trọng giữa nghi thức và sự thờ phượng đích thực. Trong đó, Chúa Giêsu đã dứt khoát nói “không” với những lời nói suông và “không” với các lễ vật hy sinh bằng động vật, và Ngài đã đặt vào đó lời “có” vĩ đại của cuộc đời và cái chết của Ngài. Như vậy, Bí tích Thánh Thể đại diện cho sự phê phán dứt khoát đối với nghi thức và, đồng thời, chính là nghi thức theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này.

Các Giáo phụ của Giáo hội đã đúng khi mô tả nó, một mặt là sự chấm dứt của ngoại giáo, như là tập tục, và mặt khác là đặc trưng cho chính Kitô giáo như là lời cầu nguyện. Tôi tin rằng chúng ta nên suy ngẫm sâu sắc hơn nữa về sự đối lập cơ bản này. Định hướng cơ bản này trong lịch sử cầu nguyện đầy kịch tính của Chúa Giêsu cho phép chúng ta hiểu được toàn bộ tính hiện thực mà Ngài đã thực hiện công trình rao giảng của mình.

Dụ ngôn về người đàn ông không muốn đứng dậy cho bạn mình chiếc bánh đã nói rõ rằng cầu nguyện luôn là sự vượt qua sự ỳ trệ của chúng ta, là điều tạo nên rất nhiều lý do để không đứng dậy. Cầu nguyện nghĩa là chống lại sự ỳ trệ này của trái tim và do đó cũng có nghĩa là sự khiêm nhường khi trình bày trước mặt Chúa ngay cả những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, và cầu xin sự giúp đỡ của Ngài.

Một điểm cuối cùng. Thông thường, cách cầu nguyện thực tế và khiêm nhường được trình bày như một sự phản đối đối với lời cầu nguyện xin ơn: rằng lời cầu nguyện thích hợp luôn luôn và chỉ nên là lời ca ngợi Chúa, chứ không phải là sự van xin liên tục. Thật là dại dột khi cho rằng Chúa không thể và không nên bận tâm đến những điều nhỏ nhặt của chúng ta. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải nghĩ đến bản thân mình. Và trên thực tế, chúng ta cần Chúa chính xác để có thể sống cuộc sống hằng ngày của mình bắt đầu từ Ngài và hướng về Ngài. Chính vì không quên rằng Cha chúng ta là Đấng mà chúng ta tin cậy, Kinh Lạy Cha bao gồm bảy lời cầu xin. Việc cầu nguyện với Chúa cũng đồng nghĩa với việc thanh tẩy những ước muốn của chúng ta để chúng ta có thể trình bày chúng trước mặt Chúa và để chúng được hòa nhập vào gia đình của Chúa Kitô.


Source:Catholic Herald