Người Phụ Nữ Samaria: Nhà Truyền Giáo
Nguyễn Trung Tây
Người phụ nữ xứ Samaria chính là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên trong dòng lịch sử Tân Ước. Cô đã gặp Đức Giêsu bên bờ giếng. Cô đón nhận cuộc đối thoại khởi động từ Đức Giêsu. Càng đối thoại với Đức Giêsu, người phụ nữ càng hiểu rõ và nắm bắt được những điều Ngài muốn đối thoại với cô. Sau cùng, cô quay về lại thôn làng để rao truyền tới dân làng về Đấng Mêsia bên bờ giếng, Người mà cô vừa gặp gỡ và đối thoại.
A. Thần Học Ánh Sáng
Tác giả Gioan rõ ràng đã có một so sánh mang nét thần học giữa hai cuộc hội ngộ của Đức Giêsu với Nicôđêmô trong chương 3 và người phụ nữ Samaria chương 4. Nicôđêmô là một thành viên của Sandherin, Hội đồng Lãnh đạo Tối Cao của xã hội Do Thái vào thế kỷ thứ nhất Công nguyên. Ông đã đến gặp Đức Giêsu vào ban đêm, biểu tượng của đêm đen bóng tối. Càng đi sâu vào cuộc đối thoại với Đức Giêsu, ông lại càng không hiểu những nét thần học mà Đức Giêsu muốn chia sẻ với nhà lãnh đạo Do Thái. Nicôđêmô cuối cùng rời bỏ Đức Giêsu. Nhưng người phụ nữ Samaria thì khác, cô ra giếng gặp Đức Giêsu ngay giữa lúc trưa, giây phút ánh sáng đạt đỉnh điểm trong ngày. Càng đối thoại với đàn ông Do Thái bên bờ giếng, cô càng hiểu nhiều hơn, để rồi nhận ra Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia. Người phụ nữ xứ Samaria cuối cùng cũng rời bỏ Đức Giêsu, nhưng để giới thiệu Đấng Cứu Độ bên giếng nước tới tất cả mọi người cô gặp gỡ trên đường!
Một trong những nét thần học của Tin Mừng Gioan đó là ánh sáng và bóng tối. Đức Giêsu trong Tin Mừng thứ Tư được giới thiệu là Ánh Sáng. Ngài là Ánh Sáng đến trong thế gian. Ngài bao phủ và đánh bại đêm đen bóng tối (Gioan 1:4-5). Khi gặp nhà lãnh đạo Nicôđêmô, Đức Giêsu tuyên phán Ngài là ánh sáng được sai đến trong thế gian. Nhưng thế gian không nhận ra ánh sáng, bởi lòng họ hướng về đêm đen tội lỗi (Gioan 3:19-21). Khi gặp người mù từ lúc bẩm sinh, Ngài nói, “Ta là ánh sáng thế gian” (Gioan 9:5). Và Ngài chữa lành đôi mắt mù lòa bẩm sinh của người ăn mày thành Giêrusalem.
Nắm bắt được thần học ánh sáng và bóng tối trong Tin Mừng Gioan, độc giả Kinh Thánh sẽ nhận ra tác giả Gioan đã vẽ một bức tranh tương phản giữa nhà lãnh đạo Nicôđêmô và người phụ nữ xứ Samaria. Nicôđêmô, một nhà thông thái trong xã hội cuối cùng rời bỏ Đức Giêsu bởi ông không hiểu điều Ngài muốn chia sẻ. Nhưng người phụ nữ Samaria, một người vô danh và công dân hạng hai trong xã hội lại hiểu thấu đáo những nét căn bản của thần học Kitô. Ngay giữa trưa hè, nhận được ánh sáng trời cao từ Đấng Mêsia, cô rời giếng nước để rao truyền tới mọi người về Đấng Kitô.
B. Để Lại Đằng Sau
Sau cuộc tranh luận thần học với Ngài, người phụ nữ đã để lại bên bờ giếng vò nước, phương tiện sinh sống hằng ngày của người phụ nữ của thời đó. Vò nước để lại bên bờ giếng được hiểu như một biểu tượng của chấm dứt một cuộc sống cũ để bắt đầu một cuộc sống mới.
Bốn tông đồ Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan đã từng bỏ lại sau lưng thuyền đánh cá để đi theo Đức Giêsu (Luca 5:1-11). Tương tự như thế, sau cuộc tranh luận thần học với Đức Giêsu, người phụ nữ Samaria đã để lại bên bờ giếng vò nước. Thuyền đánh cá và vò nước, như đã nhắc tới ở trên, đều được hiểu là phương tiện hành nghề của ngư phủ và người phụ nữ vào thời Đức Giêsu. Hành động bỏ lại sau lưng phương tiện và dụng cụ hành nghề là một hành động chấm dứt một quá khứ để khởi đầu một chương sách mới của những nhà truyền giáo Kitô.
C. Giới Thiệu Đấng Mêsia
Anrê trong Tin Mừng thứ Tư, sau khi gặp gỡ Đức Giêsu, ông đã quay về gặp gỡ Simon, giới thiệu Đấng Mêsia mà ông mới gặp tới người em của mình. Ông nói với Simon, “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (Gioan 1:41). Gặp mặt Simon, Đức Giêsu đổi tên ông từ Simon sang Kêpha hay Phêrô, nghĩa là đá (Gioan 1:42) Tương tự như Anrê trong Tin Mừng Gioan, người phụ nữ xứ Samaria quay về làng và giới thiệu Đức Giêsu tới dân làng. Cô nói, “Đến mà xem người đàn ông đã nói cho tôi biết tất cả những gì tôi đã làm. Ông ta không phải Đức Kitô hay sao?” (Gioan 4:29). Bởi chứng từ của cô, dân làng đã rời bỏ nhà cửa của họ để đi tới bờ giếng. Nơi đó, họ gặp gỡ Đức Giêsu, và họ tin vào Ngài. Và Đức Giêsu đã ở lại với dân làng hai ngày.
D. Rao Giảng Đức Giêsu
Gioan Tiền Hô trong Tin Mừng Gioan khi nhận ra Đức Giêsu tại bờ sông Giođan đã giới thiệu Chiên Thiên Chúa tới mọi người. Ngày hôm sau, khi nhận ra Đức Giêsu đi ngang qua, ngôn sứ Tiền Hô một lần nữa lại giới thiệu Chiên Thiên Chúa tới các người môn đệ của môn phái Tiền Hô. Bởi lời giới thiệu của chính thầy mình, hai môn đệ của Gioan Tiền Hô đã rời bỏ môn phái Tiền Hô để đi theo Đức Giêsu (Gioan 1:35-42).
Ngôn sứ Tiền Hô trung thành với sứ vụ truyền giáo của mình. Ông biết ông sinh ra chỉ để rao giảng về và giúp người Do Thái nhận ra Đấng Mêsia mà họ đang mong đợi. Bởi thế, khi gặp gỡ nhân vật chính của dòng lịch sử ơn cứu độ, Gioan Tiền Hô không ngần ngại giới thiệu Ngài, rao truyền Chiên Thiên Chúa tới mọi người.
Người phụ nữ Samaria chạy về thôn làng rao truyền một Đức Giêsu bên bờ giếng. Tương tự như Gioan Tiền Hô, sau khi nhận ra Đấng Mêsia, người phụ nữ xứ Samaria cũng ra đi chỉ để rao giảng về Đấng Cứu Độ mà cô vừa gặp. Nói một cách khác, cô trung thành với sứ mạng truyền giáo của riêng mình. Đó là, rao giảng Đức Kitô. Nhờ chứng từ của cô, người dân làng cũng bỏ lại sau lưng nhà cửa của họ. Họ gặp gỡ Đức Giêsu. Họ tin vào Ngài. Họ mời Ngài ở lại với họ, sống giữa họ hai ngày (Gioan 4:40). Nhờ thế, số người tin vào Đức Giêsu lại càng trở nên đông hơn nữa (Gioan 4:41).
Cả hai, Gioan Tiền Hô và người phụ nữ Samaria đều ra đi chỉ để rao giảng về Đức Giêsu. Điều này, tông đồ dân ngoại Phaolô đã từng khẳng khái tuyên xưng, và cũng là một cách để nhắc nhở tín hữu Kitô của muôn thế hệ: “Chúng ra ra đi và rao giảng về Đức Giêsu bị đóng đinh” (1Cor 1:23).
Tác giả Gioan không nhắc tới tên của người phụ nữ xứ Samaria bên giếng nước. Cô biến mất sau cuộc hội ngộ với Đức Giêsu. Truyền thống Kitô giáo tin rằng người phụ nữ xứ Samaria tên là Phôtina. Cô đã rửa tội cho một vị công chúa con gái của hoàng đế Nero. Sau cùng cô ra đi rao giảng Tin Mừng tới người dân tại thành phố Carthage, và chết trong tù tại đây. [Trích đoạn 12 Suy Tư Thần Học Kinh Thánh & Truyền Giáo (Biên Hòa: NXB Đồng Nai, 2023), 86-90].
Nguyễn Trung Tây
Người phụ nữ xứ Samaria chính là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên trong dòng lịch sử Tân Ước. Cô đã gặp Đức Giêsu bên bờ giếng. Cô đón nhận cuộc đối thoại khởi động từ Đức Giêsu. Càng đối thoại với Đức Giêsu, người phụ nữ càng hiểu rõ và nắm bắt được những điều Ngài muốn đối thoại với cô. Sau cùng, cô quay về lại thôn làng để rao truyền tới dân làng về Đấng Mêsia bên bờ giếng, Người mà cô vừa gặp gỡ và đối thoại.
A. Thần Học Ánh Sáng
Tác giả Gioan rõ ràng đã có một so sánh mang nét thần học giữa hai cuộc hội ngộ của Đức Giêsu với Nicôđêmô trong chương 3 và người phụ nữ Samaria chương 4. Nicôđêmô là một thành viên của Sandherin, Hội đồng Lãnh đạo Tối Cao của xã hội Do Thái vào thế kỷ thứ nhất Công nguyên. Ông đã đến gặp Đức Giêsu vào ban đêm, biểu tượng của đêm đen bóng tối. Càng đi sâu vào cuộc đối thoại với Đức Giêsu, ông lại càng không hiểu những nét thần học mà Đức Giêsu muốn chia sẻ với nhà lãnh đạo Do Thái. Nicôđêmô cuối cùng rời bỏ Đức Giêsu. Nhưng người phụ nữ Samaria thì khác, cô ra giếng gặp Đức Giêsu ngay giữa lúc trưa, giây phút ánh sáng đạt đỉnh điểm trong ngày. Càng đối thoại với đàn ông Do Thái bên bờ giếng, cô càng hiểu nhiều hơn, để rồi nhận ra Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia. Người phụ nữ xứ Samaria cuối cùng cũng rời bỏ Đức Giêsu, nhưng để giới thiệu Đấng Cứu Độ bên giếng nước tới tất cả mọi người cô gặp gỡ trên đường!
Một trong những nét thần học của Tin Mừng Gioan đó là ánh sáng và bóng tối. Đức Giêsu trong Tin Mừng thứ Tư được giới thiệu là Ánh Sáng. Ngài là Ánh Sáng đến trong thế gian. Ngài bao phủ và đánh bại đêm đen bóng tối (Gioan 1:4-5). Khi gặp nhà lãnh đạo Nicôđêmô, Đức Giêsu tuyên phán Ngài là ánh sáng được sai đến trong thế gian. Nhưng thế gian không nhận ra ánh sáng, bởi lòng họ hướng về đêm đen tội lỗi (Gioan 3:19-21). Khi gặp người mù từ lúc bẩm sinh, Ngài nói, “Ta là ánh sáng thế gian” (Gioan 9:5). Và Ngài chữa lành đôi mắt mù lòa bẩm sinh của người ăn mày thành Giêrusalem.
Nắm bắt được thần học ánh sáng và bóng tối trong Tin Mừng Gioan, độc giả Kinh Thánh sẽ nhận ra tác giả Gioan đã vẽ một bức tranh tương phản giữa nhà lãnh đạo Nicôđêmô và người phụ nữ xứ Samaria. Nicôđêmô, một nhà thông thái trong xã hội cuối cùng rời bỏ Đức Giêsu bởi ông không hiểu điều Ngài muốn chia sẻ. Nhưng người phụ nữ Samaria, một người vô danh và công dân hạng hai trong xã hội lại hiểu thấu đáo những nét căn bản của thần học Kitô. Ngay giữa trưa hè, nhận được ánh sáng trời cao từ Đấng Mêsia, cô rời giếng nước để rao truyền tới mọi người về Đấng Kitô.
B. Để Lại Đằng Sau
Sau cuộc tranh luận thần học với Ngài, người phụ nữ đã để lại bên bờ giếng vò nước, phương tiện sinh sống hằng ngày của người phụ nữ của thời đó. Vò nước để lại bên bờ giếng được hiểu như một biểu tượng của chấm dứt một cuộc sống cũ để bắt đầu một cuộc sống mới.
Bốn tông đồ Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan đã từng bỏ lại sau lưng thuyền đánh cá để đi theo Đức Giêsu (Luca 5:1-11). Tương tự như thế, sau cuộc tranh luận thần học với Đức Giêsu, người phụ nữ Samaria đã để lại bên bờ giếng vò nước. Thuyền đánh cá và vò nước, như đã nhắc tới ở trên, đều được hiểu là phương tiện hành nghề của ngư phủ và người phụ nữ vào thời Đức Giêsu. Hành động bỏ lại sau lưng phương tiện và dụng cụ hành nghề là một hành động chấm dứt một quá khứ để khởi đầu một chương sách mới của những nhà truyền giáo Kitô.
C. Giới Thiệu Đấng Mêsia
Anrê trong Tin Mừng thứ Tư, sau khi gặp gỡ Đức Giêsu, ông đã quay về gặp gỡ Simon, giới thiệu Đấng Mêsia mà ông mới gặp tới người em của mình. Ông nói với Simon, “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (Gioan 1:41). Gặp mặt Simon, Đức Giêsu đổi tên ông từ Simon sang Kêpha hay Phêrô, nghĩa là đá (Gioan 1:42) Tương tự như Anrê trong Tin Mừng Gioan, người phụ nữ xứ Samaria quay về làng và giới thiệu Đức Giêsu tới dân làng. Cô nói, “Đến mà xem người đàn ông đã nói cho tôi biết tất cả những gì tôi đã làm. Ông ta không phải Đức Kitô hay sao?” (Gioan 4:29). Bởi chứng từ của cô, dân làng đã rời bỏ nhà cửa của họ để đi tới bờ giếng. Nơi đó, họ gặp gỡ Đức Giêsu, và họ tin vào Ngài. Và Đức Giêsu đã ở lại với dân làng hai ngày.
D. Rao Giảng Đức Giêsu
Gioan Tiền Hô trong Tin Mừng Gioan khi nhận ra Đức Giêsu tại bờ sông Giođan đã giới thiệu Chiên Thiên Chúa tới mọi người. Ngày hôm sau, khi nhận ra Đức Giêsu đi ngang qua, ngôn sứ Tiền Hô một lần nữa lại giới thiệu Chiên Thiên Chúa tới các người môn đệ của môn phái Tiền Hô. Bởi lời giới thiệu của chính thầy mình, hai môn đệ của Gioan Tiền Hô đã rời bỏ môn phái Tiền Hô để đi theo Đức Giêsu (Gioan 1:35-42).
Ngôn sứ Tiền Hô trung thành với sứ vụ truyền giáo của mình. Ông biết ông sinh ra chỉ để rao giảng về và giúp người Do Thái nhận ra Đấng Mêsia mà họ đang mong đợi. Bởi thế, khi gặp gỡ nhân vật chính của dòng lịch sử ơn cứu độ, Gioan Tiền Hô không ngần ngại giới thiệu Ngài, rao truyền Chiên Thiên Chúa tới mọi người.
Người phụ nữ Samaria chạy về thôn làng rao truyền một Đức Giêsu bên bờ giếng. Tương tự như Gioan Tiền Hô, sau khi nhận ra Đấng Mêsia, người phụ nữ xứ Samaria cũng ra đi chỉ để rao giảng về Đấng Cứu Độ mà cô vừa gặp. Nói một cách khác, cô trung thành với sứ mạng truyền giáo của riêng mình. Đó là, rao giảng Đức Kitô. Nhờ chứng từ của cô, người dân làng cũng bỏ lại sau lưng nhà cửa của họ. Họ gặp gỡ Đức Giêsu. Họ tin vào Ngài. Họ mời Ngài ở lại với họ, sống giữa họ hai ngày (Gioan 4:40). Nhờ thế, số người tin vào Đức Giêsu lại càng trở nên đông hơn nữa (Gioan 4:41).
Cả hai, Gioan Tiền Hô và người phụ nữ Samaria đều ra đi chỉ để rao giảng về Đức Giêsu. Điều này, tông đồ dân ngoại Phaolô đã từng khẳng khái tuyên xưng, và cũng là một cách để nhắc nhở tín hữu Kitô của muôn thế hệ: “Chúng ra ra đi và rao giảng về Đức Giêsu bị đóng đinh” (1Cor 1:23).
Tác giả Gioan không nhắc tới tên của người phụ nữ xứ Samaria bên giếng nước. Cô biến mất sau cuộc hội ngộ với Đức Giêsu. Truyền thống Kitô giáo tin rằng người phụ nữ xứ Samaria tên là Phôtina. Cô đã rửa tội cho một vị công chúa con gái của hoàng đế Nero. Sau cùng cô ra đi rao giảng Tin Mừng tới người dân tại thành phố Carthage, và chết trong tù tại đây. [Trích đoạn 12 Suy Tư Thần Học Kinh Thánh & Truyền Giáo (Biên Hòa: NXB Đồng Nai, 2023), 86-90].