1. Tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ sau khi Tổng thống Trump mạ lị Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trên mạng xã hội

Đức Tổng Giám Mục Paul S. Coakley, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, đã đưa ra một phản hồi ngắn gọn về bài đăng trên mạng xã hội của Tổng thống Trump vào tối Chúa Nhật.

“Tôi rất thất vọng khi Tổng thống lại chọn viết những lời lẽ miệt thị như vậy về Đức Thánh Cha. Đức Giáo Hoàng Lêô không phải là đối thủ của ông ta; và Đức Giáo Hoàng cũng không phải là một chính trị gia. Ngài là Đại diện của Chúa Kitô, người nói lên chân lý của Tin Mừng và vì sự chăm sóc các linh hồn.”


Source:USCCB

2. Bài đăng của mục sư ủng hộ Trump nói Tổng thống bị “quỷ ám” gây sốt trên mạng xã hội

Một mục sư Kitô giáo bảo thủ ở Texas cho biết ông đang nhìn thấy “tà tâm” nơi Tổng thống Trump.

Ge Webbon, người sáng lập Right Response Ministries và mục sư cao cấp của Nhà thờ Covenant Bible ở Georgetown, đã lên án hình ảnh do AI tạo ra mô tả Tổng thống Trump như Chúa Giêsu là báng bổ, đồng thời cho rằng có điều gì đó nham hiểm hơn đang diễn ra.

“Tôi thực sự tin rằng Tổng thống Trump hiện đang bị quỷ ám,” Webbon đăng trên X sau khi tổng thống chia sẻ một hình ảnh vào tối Chúa Nhật, mô tả chính ông với bàn tay chữa lành đặt lên đầu một người đàn ông trong khi những người khác nhìn với vẻ tôn kính.

Hình ảnh này, sau đó đã bị xóa khỏi tài khoản Truth Social của Tổng thống Trump, đã gây ra sự chỉ trích từ những người ủng hộ bảo thủ, bao gồm cựu Dân biểu Marjorie Taylor Greene và Riley Gaines, một đồng minh của Tổng thống Trump phản đối các vận động viên chuyển giới trong các môn thể thao nữ.

“Tại sao? Thật sự, tôi không thể hiểu tại sao ông ấy lại đăng điều này,” Gaines nói vào sáng sớm thứ Hai, ám chỉ tổng thống. “Ông ấy đang tìm kiếm phản hồi sao? Ông ấy thực sự nghĩ như vậy sao? Dù sao đi nữa, hai điều sau là đúng. Thứ nhất, một chút khiêm nhường sẽ có ích cho ông ấy. Thứ hai, Chúa không thể bị chế nhạo.”

“Tôi cho rằng ai đó đã nói với ông ấy rồi, nhưng việc xóa bức ảnh là điều cần thiết cho Tổng thống cả về mặt tâm linh và chính trị, bất kể ý định là gì,” tác giả và nhà bình luận chính trị bảo thủ Michael J. Knowles viết vào tối Chúa Nhật.

Trong một bài đăng khác trên X, Webbon đã liên kết việc Tổng thống Trump bị cáo buộc phạm thượng với việc tổng thống thay thế các đồng minh của mình như Greene, nhà bình luận bảo thủ Tucker Carlson và người sáng lập InfoWars Alex Jones bằng “MAGA mới”: người dẫn chương trình Fox News Mark Levin, Thượng Nghị Sĩ Nam Carolina Lindsey Graham và nhà hoạt động cực hữu Laura Loomer. Webbon mô tả cả ba người này đều là những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái.

Nhiều người không đi xa đến mức cho Tổng thống Trump là bị quỷ ám như mục sư Webbon, mà cho rằng Ông Trump có vấn đề về sức khoẻ tâm thần. Điều đáng lo là ông ta đang đẩy thế giới này vào một cuộc chiến mà trên khắp thế giới mọi người, đặc biệt là những người nghèo, đang có thể cảm nhận được một cách tỏ tường những hậu quả bi thảm đối với cuộc sống của họ.


Source:Newsweek

3. Giám mục người Phi Luật Tân lên án nghi lễ Phục Sinh liên quan đến chim bồ câu và bóng bay

Theo báo cáo của Licas News hôm thứ Tư, Đức Hồng Y Pablo Virgilio David của Kalookan ở Phi Luật Tân đã khiển trách một giáo xứ địa phương về cách họ sử dụng một con chim bồ câu sống trong một nghi lễ Phục sinh liên quan đến một quả bóng bay.

Báo cáo cho biết con chim bị buộc vào quả bóng bay trong suốt nghi lễ, gây ra sự đau khổ cho con vật, dẫn đến việc nó bị giết chết.

“Tôi không hề biết rằng sau đó lại có một thủ đoạn khác là buộc chim bồ câu vào bóng bay, cố định cánh của nó. Nếu tôi biết, tôi đã phản đối, bởi vì điều này không chỉ tàn nhẫn với động vật mà còn gây hại cho môi trường, đặc biệt là sinh vật biển có thể nuốt phải những quả bóng bay đã xẹp hơi”, David nói sau khi vụ việc gây tranh cãi trong Hiệp hội Phúc lợi Động vật Phi Luật Tân.


Source:EWTN

4. Người Kitô giáo ở miền nam Li Băng kêu cứu

Cộng đồng Kitô giáo ở Li Băng đang phản ứng với sự phẫn nộ ngày càng tăng sau khi một cuộc tấn công của Israel khiến Pierre Maouad, một sĩ quan của Quân đội Li Băng; vợ ông, Flavia; và người hàng xóm của họ, Roula, thiệt mạng vào Chúa Nhật Phục sinh, theo ACI MENA, dịch vụ tiếng Ả Rập của EWTN News đưa tin hôm thứ Ba.

Những cái chết này nhanh chóng làm dấy lên cáo buộc rằng các phần tử Hezbollah đã sử dụng dân thường làm bình phong tại các khu vực Kitô giáo, đặc biệt là sau khi xuất hiện những lời khai mâu thuẫn về việc liệu căn nhà bị tấn công có người ở hay không. Vụ việc đã làm gia tăng sự mất lòng tin đối với cả Hezbollah và các thể chế nhà nước, với nhiều cư dân bác bỏ lời giải thích của Quân đội Li Băng về các sự kiện và yêu cầu sự minh bạch.

Tại một số khu dân cư, nỗi sợ hãi đã dẫn đến việc tăng cường cảnh giác, áp dụng các biện pháp an ninh mới và những lời kêu gọi tự bảo vệ mạnh mẽ hơn, khi nhiều người Kitô hữu khẳng định họ đang bị buộc phải gánh chịu hậu quả của một cuộc chiến không phải do họ gây ra.


Source:EWTN

5. Tổng giáo phận Nam Hàn ra mắt sáng kiến AI lấy cảm hứng từ Carlo Acutis

Tổng giáo phận Hán Thành vừa thông báo sẽ sớm ra mắt dịch vụ thông tin tích hợp trí tuệ nhân tạo, lấy cảm hứng từ Thánh Carlo Acutis.

Theo thông tin từ UCA News hôm thứ Tư, giai đoạn đầu tiên của sáng kiến này sẽ được triển khai vào tháng 5 và sẽ tích hợp dữ liệu từ các dịch vụ do tổng giáo phận cung cấp, bao gồm giáo lý, các chương trình mục vụ và công tác tình nguyện, với các hệ thống thông tin khác của tổng giáo phận.

Giai đoạn thứ hai sẽ tập trung vào hệ thống hành chính của tổng giáo phận từ năm 2029 đến năm 2031. Báo cáo cho biết sáng kiến này cũng sẽ thúc đẩy Ngày Giới trẻ Thế giới năm 2027, dự kiến diễn ra tại Hán Thành.


Source:EWTN

6. Diễn từ của Đức Thánh Cha tại Đại đền thờ Hồi Giáo Algiers

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Lúc 9 sáng Thứ Hai, 13 Tháng Tư, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã khởi hành từ phi trường Fiumicino của Rôma để bay sang Algeria.

Đức Thánh Cha đã đến nơi lúc 10 giờ và được chào đón trọng thể tại phi trường quốc tế Houari Boumédiène. Ngài đã đến thăm quảng trường các vị tử đạo Maqam Echahid, trước khi viếng thăm xã giao Tổng thống Abdelmadjid Tebboune tại Phủ Tổng Thống lúc 11:15.

Lúc 12 giờ, tại trung tâm hội nghị Djamaa el Djazair, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với chính quyền dân sự Algeria và ngoại giao đoàn.

Sau đó, lúc 15:45, Đức Thánh Cha đã đến thăm Đại đền thờ Hồi Giáo Algiers

Sau lời chào mừng của Viện trưởng Đại Đền thờ Hồi giáo, Mohamed Mamoun Al Qasimi, Đức Thánh Cha nói:

Cảm ơn vì bài suy niệm và những lời nói này, rất quan trọng trong chuyến thăm này, về một nơi tượng trưng cho không gian thuộc về Thiên Chúa, một không gian thần thiêng, nơi rất nhiều người đến cầu nguyện, để tìm thấy sự hiện diện của Đấng Tối Cao, của Thiên Chúa, trong cuộc sống của họ.

Như các bạn đã biết, tôi đến Algeria với niềm vui lớn lao, bởi đây cũng là quê hương của cha tinh thần tôi, Thánh Augustinô, người đã tha thiết mong muốn dạy cho thế giới, trên hết, về việc tìm kiếm chân lý, tìm kiếm Thiên Chúa, nhận ra phẩm giá của mỗi con người và tầm quan trọng của việc xây dựng hòa bình.

Tìm kiếm Thiên Chúa cũng có nghĩa là nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa trong mọi tạo vật, trong con cái của Thiên Chúa, trong mỗi người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa. Đối với chúng ta, điều này có nghĩa là việc học cách sống chung với nhau một cách tôn trọng phẩm giá của mỗi con người là vô cùng quan trọng.

Còn một giá trị khác mà các bạn đã rất muốn đưa vào trung tâm tuyệt vời này: quả thực, bên cạnh đền thờ Hồi giáo, một nơi cầu nguyện, còn có một trung tâm học tập. Điều quan trọng biết bao khi con người phát triển khả năng trí tuệ mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại, để chúng ta có thể khám phá ra sự rộng lớn của tạo hóa, sự vĩ đại của những gì Thiên Chúa đã để lại cho chúng ta trong toàn bộ tạo hóa, và đặc biệt là trong nhân loại!

Nhờ vào tinh thần, nhờ vào nơi cầu nguyện này, nhờ vào việc theo đuổi chân lý, đặc biệt là qua việc học tập, và nhờ vào khả năng nhận ra phẩm giá của mỗi con người, chúng ta biết – và cuộc gặp gỡ hôm nay là bằng chứng – rằng chúng ta có thể học cách tôn trọng lẫn nhau, sống hòa thuận và xây dựng một thế giới hòa bình.

Chiều nay, tôi cầu nguyện cho các bạn, cho người dân Algeria, cho tất cả các dân tộc trên trái đất, để hòa bình và công lý của Vương quốc Thiên Chúa cũng được biểu lộ giữa chúng ta, và để tất cả chúng ta ngày càng tin tưởng hơn vào sự cần thiết phải trở thành những người thúc đẩy hòa bình, hòa giải, tha thứ, và điều thực sự là tinh thần của Thiên Chúa cho toàn thể tạo vật.

7. Diễn từ của Đức Thánh Cha với cộng đoàn Công Giáo Algeria

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Lúc 9 sáng Thứ Hai, 13 Tháng Tư, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã khởi hành từ phi trường Fiumicino của Rôma để bay sang Algeria.

Đức Thánh Cha đã đến nơi lúc 10 giờ và được chào đón trọng thể tại phi trường quốc tế Houari Boumédiène. Ngài đã đến thăm quảng trường các vị tử đạo Maqam Echahid, trước khi viếng thăm xã giao Tổng thống Abdelmadjid Tebboune tại Phủ Tổng Thống lúc 11:15.

Lúc 12 giờ, tại trung tâm hội nghị Djamaa el Djazair, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với chính quyền dân sự Algeria và ngoại giao đoàn.

Sau đó, lúc 15:45, Đức Thánh Cha đã đến thăm Đại đền thờ Hồi Giáo Algiers.

Sinh hoạt cuối cùng của ngài là thăm viếng đền thánh Đức Mẹ Phi Châu.

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ toàn văn diễn từ của ngài với cộng đoàn Công Giáo địa phương qua phần trình bày của Kim Thúy.

Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.

Bình an cho anh chị em!

Anh em thân mến trong hàng giám mục,

Các linh mục và phó tế, các tu sĩ nam nữ thân mến,

Các con yêu dấu của Giáo hội tại Algeria,

Tôi vô cùng vui mừng và yêu thương như một người cha khi được gặp gỡ anh chị em hôm nay, những người có sự hiện diện kín đáo và quý giá trên mảnh đất này, được đánh dấu bởi một di sản cổ xưa và những chứng nhân rạng rỡ của đức tin.

Cộng đồng của anh chị em quả thật có những gốc rễ sâu xa. Anh chị em là những người thừa kế của vô số những chứng nhân đã hi sinh mạng sống mình, được thúc đẩy bởi tình yêu dành cho Chúa và tha nhân. Tôi đặc biệt nhớ đến mười chín vị nam nữ tu sĩ đã tử đạo ở Algeria, những người đã chọn đứng bên cạnh những người dân này trong niềm vui và nỗi buồn của họ. Máu của họ là một hạt giống sống động không bao giờ ngừng đơm hoa kết trái.

Anh chị em cũng là những người thừa kế của một truyền thống cổ xưa hơn nữa, có từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo. Trên mảnh đất này vang vọng tiếng nói nhiệt thành của Thánh Augustinô thành Hippo, đi trước là chứng tá của mẹ ngài, Thánh Monica, và của các vị thánh khác. Ký ức về các vị tỏa sáng như một lời kêu gọi hãy là những dấu hiệu đích thực của sự hiệp thông, đối thoại và hòa bình ngày nay.

Gửi đến tất cả các bạn, những người bạn thân mến, và cả những người không thể hiện diện nhưng đang theo dõi cuộc gặp gỡ này từ xa, tôi bày tỏ lòng biết ơn về sự tận tâm hằng ngày của các bạn trong việc thể hiện tấm lòng mẫu thân của Giáo hội. Tôi cảm ơn Đức Hồng Y vì những lời của ngài, và cũng cảm ơn Rakel, Ali, Monia và Sơ Bernadette vì những gì họ đã chia sẻ. Dựa trên những điều chúng ta vừa nghe, tôi muốn chúng ta cùng dừng lại và suy gẫm về ba khía cạnh của đời sống Kitô giáo mà tôi cho là thiết yếu — đặc biệt là trong bối cảnh sự hiện diện của anh chị em ở đây: cầu nguyện, bác ái và hiệp nhất.

Thứ nhất, cầu nguyện. Tất cả chúng ta đều cần cầu nguyện. Thánh Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh điều này khi nói với giới trẻ: “Con người không thể sống thiếu cầu nguyện, cũng như không thể sống thiếu hơi thở” (Gặp gỡ các bạn trẻ Hồi giáo tại Casablanca, ngày 19 tháng 8 năm 1985, 4). Ngài trình bày việc đối thoại với Thiên Chúa là điều không thể thiếu — không chỉ đối với đời sống của Giáo hội, mà còn đối với mỗi cá nhân. Thánh Charles de Foucauld cũng nhận ra điều này và đón nhận ơn gọi của mình là một người hiện diện trong lời cầu nguyện. Ngài viết: “Tôi hạnh phúc, hạnh phúc khi được ở trước Thánh Thể mọi lúc” (Thư gửi Raymond de Blic, ngày 9 tháng 12 năm 1907) và ngài khuyên nhủ cầu nguyện cho người khác: “Hãy cầu nguyện nhiều cho người khác. Hãy tận tâm vì ơn cứu độ của tha nhân bằng mọi cách trong khả năng của mình: bằng lời cầu nguyện, bằng lòng tốt, bằng gương mẫu” (Thư gửi Louis Massignon, ngày 1 tháng 8 năm 1916).

Về nhu cầu cầu nguyện của chúng ta, Ali đã chia sẻ kinh nghiệm phục vụ của mình tại Notre Dame d'Afrique, nơi nhiều người đến để tìm sự tĩnh lặng, bày tỏ những lo lắng của họ, cầu nguyện cho những người thân yêu và gặp gỡ những người sẵn lòng lắng nghe họ để họ có thể chia sẻ những gánh nặng trong lòng. Anh nhận thấy rằng nhiều người tìm thấy sự bình an ở đây và hạnh phúc vì đã đến. Cầu nguyện kết nối, nhân bản hóa, củng cố và thanh tẩy tâm hồn. Qua cầu nguyện, Giáo hội tại Algeria nhìn thấy tình người, sự hiệp nhất, sức mạnh và sự thanh khiết, vươn tới những nơi chỉ có Chúa mới biết.

Khía cạnh tiếp theo của đời sống Giáo hội mà tôi muốn xem xét là lòng bác ái. Sơ Bernadette đã chia sẻ với chúng ta về điều này, đặc biệt là kinh nghiệm của bà trong việc hỗ trợ trẻ em khuyết tật và cha mẹ của các em. Từ những gì bà chia sẻ, chúng tôi hiểu rằng lòng thương xót và phục vụ không chỉ đơn thuần là cung cấp sự giúp đỡ vật chất cho những người yếu thế nhất trong chúng ta. Trên hết, những hành động như vậy trở thành cơ hội cho ân sủng, giúp tất cả những người tham gia đều phát triển và được làm giàu thêm. Sơ Bernadette giải thích làm thế nào một cử chỉ gần gũi ban đầu đơn giản - thăm viếng người bệnh - đã nở rộ thành một trung tâm cộng đồng và sau đó là một tổ chức chăm sóc ngày càng có cấu trúc. Giờ đây, nó đã trở thành một cộng đồng đích thực, nơi nhiều người chia sẻ những khoảnh khắc vui buồn, được gắn kết bởi mối dây tin tưởng, tình bạn và tình huynh đệ. Môi trường như vậy mang lại sự sống và chữa lành, và không có gì ngạc nhiên khi những người đau khổ có thể tìm thấy trong đó những nguồn lực cần thiết để cải thiện sức khỏe của họ, đồng thời mang lại niềm vui cho người khác, như trường hợp của Fatima.

Sau tất cả, chính tình yêu thương anh chị em đã truyền cảm hứng cho chứng nhân của các vị tử đạo mà chúng ta đã tưởng niệm. Trước sự thù hận và bạo lực, họ vẫn trung thành với lòng bác ái đến mức hy sinh bản thân cùng với nhiều người nam nữ khác, cả Kitô hữu và Hồi giáo. Họ làm điều đó mà không phô trương hay ồn ào, với sự thanh thản và kiên định, không kiêu ngạo cũng không tuyệt vọng, vì họ biết Đấng mà họ đã đặt niềm tin (xem 2 Tim 1:12). Thay mặt tất cả họ, chúng ta có thể nhớ lại những lời giản dị của Thầy Luc, vị đan sĩ già và là y sĩ của cộng đồng Notre-Dame de l’Atlas. Khi được đề nghị khả thể rời đi và tự cứu mình khỏi những nguy hiểm tiềm tàng, với cái giá là bỏ rơi bệnh nhân và bạn bè, ngài đã trả lời: “Tôi muốn ở lại với họ” (C. Henning - T. Georgeon, Fratel Luc di Tibhirine. Monaco, medico e martire, Vatican City 2025, Lời giới thiệu), và ngài đã làm như vậy. Nhân dịp phong chân phước cho ngài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về ngài và tất cả những người khác rằng: “Chứng nhân can đảm của họ là nguồn hy vọng cho cộng đồng Công Giáo Algeria và là hạt giống của cuộc đối thoại cho toàn xã hội. Mong rằng việc phong chân phước này sẽ là nguồn cảm hứng cho mọi người cùng nhau xây dựng một thế giới bác ái và liên đới” (8 tháng 12 năm 2018).

Và như vậy, chúng ta đến với điểm thứ ba trong suy niệm của mình: cam kết của chúng ta trong việc thúc đẩy hòa bình và hiệp nhất. Khẩu hiệu của chuyến thăm này được rút ra từ lời của Chúa Giêsu phục sinh: “Bình an cho các con!” (xem Ga 20:21). Trong một dòng chữ khắc trên các bức tranh khảm ở Tipasa, ta đọc được: “In Deo, pax et concordia sit convivio nostro,” có thể dịch là: “Nguyện xin bình an và hòa thuận ngự trị trong đời sống chung của chúng ta nơi Thiên Chúa.” Bình an và hòa thuận là những đặc điểm cơ bản của cộng đồng Kitô giáo ngay từ thuở ban đầu (xem Công vụ 2:42-47), phù hợp với ước muốn của chính Chúa Giêsu (xem Ga 17:23), Đấng đã phán: “Nhờ đó mà mọi người sẽ biết các con là môn đệ của Ta, nếu các con yêu thương nhau” (Ga 13:35). Về khía cạnh này, Thánh Augustinô đã khẳng định rằng Giáo hội “sinh ra nhiều dân tộc khác nhau, nhưng họ là các chi thể của Đấng mà Giáo hội là thân thể” (Bài giảng 192, 2), và Thánh Cyprian đã viết: “Sự bình an và hòa thuận huynh đệ của chúng ta là hy lễ lớn lao hơn cho Thiên Chúa — và một dân tộc hiệp nhất trong sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Kinh Lạy Cha, 23). Hôm nay, thật tuyệt vời khi được nghe nhiều lời lẽ và ví dụ phong phú vang vọng trong những điều chúng ta đã nghe.

Như Đức Hồng Y đã đề cập, chính vương cung thánh đường này là dấu hiệu cho khát vọng hòa bình và đoàn kết của chúng ta. Nó tượng trưng cho một Giáo hội bằng những viên đá sống, nơi sự hiệp thông giữa Kitô hữu và Hồi giáo được hình thành dưới sự che chở của Đức Mẹ Phi Châu. Ở đây, tình mẫu tử của Đức Mẹ Lalla Meryem quy tụ mọi người như những đứa con, trong sự đa dạng phong phú của chúng ta, trong khát vọng chung về phẩm giá, tình yêu thương, công lý và hòa bình. Tất cả con cái của Mẹ đều háo hức cùng nhau bước đi, sống, cầu nguyện, làm việc và ước mơ, bởi vì đức tin không cô lập mà mở rộng chúng ta; nó đoàn kết chúng ta, nhưng không tạo ra sự hỗn loạn; nó đưa chúng ta đến gần nhau hơn, mà không làm đồng nhất hóa, và nuôi dưỡng tình huynh đệ đích thực. Đó là những gì Monia đã nói với chúng ta. Rakel cũng chia sẻ cùng một cảm xúc trong lời chứng về trải nghiệm của cô ấy trong Hội nhóm Tlemcen. Trong một thế giới nơi sự chia rẽ và chiến tranh gieo rắc đau thương và cái chết giữa các quốc gia, trong cộng đồng, và thậm chí trong các gia đình, trải nghiệm về sự hiệp nhất và hòa bình của anh chị em là một dấu hiệu đầy sức thuyết phục. Cùng nhau, anh chị em lan tỏa tình huynh đệ và khơi dậy khát vọng sâu sắc về sự hiệp thông và hòa giải bằng một thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng, xuất phát từ sự giản dị và khiêm nhường.

Một phần đáng kể lãnh thổ đất nước này là sa mạc, và ở sa mạc, không ai có thể sống sót một mình. Môi trường khắc nghiệt xua tan mọi ảo tưởng về sự tự túc, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cần nhau và cần đến Thiên Chúa. Khi chúng ta thừa nhận sự yếu đuối của mình, trái tim chúng ta sẽ rộng mở để nâng đỡ lẫn nhau và cầu khẩn Đấng có thể ban cho điều mà không một quyền lực nào của con người có thể bảo đảm: sự hòa giải sâu sắc giữa các tâm hồn và, cùng với đó, là hòa bình đích thực.

Vì vậy, anh chị em thân mến, tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục công việc của mình ở Algeria như một cộng đồng đức tin gắn kết và cởi mở, như một sự hiện diện sống động của Giáo hội, “bí tích cứu độ phổ quát” (Hiến pháp Tín lý về Giáo hội Lumen Gentium, 48). Cảm ơn anh chị em vì tất cả những gì anh chị em đã làm, vì lời cầu nguyện, lòng bác ái và chứng nhân về sự hiệp nhất của anh chị em. Tôi bảo đảm với anh chị em rằng tôi sẽ luôn nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện của mình trước Chúa, và phó thác anh chị em cho Đức Mẹ Maria, Đức Mẹ của Phi Châu, tôi chân thành chúc phúc cho anh chị em.