Quốc kỳ của Trung Quốc (trái) và Hoa Kỳ được nhìn thấy cạnh nhau. (Ảnh: Canva)


Giải quyết cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu đòi hỏi phải vượt ra ngoài sự bóc lột kinh tế để tích hợp khuôn khổ triết học, luật sinh thái và ngoại giao liên văn hóa cởi mở.

Hugh Williams, trong mục Global Catholic của Hãng tin UCANews, trong bản tin ngày 19 tháng 8 năm 2026, cho biết: Mùa hè này ở châu Âu, đã có ba đợt nắng nóng chưa từng có về thời điểm bắt đầu sớm, cường độ, thời gian kéo dài và phạm vi địa lý. Tác động đến sức khỏe của con người, động vật và thực vật rất nghiêm trọng, làm trầm trọng thêm tác động của sự bất bình đẳng liên quan đến nhà ở, điều kiện làm việc, giao thông và thu nhập.

Ở Canada, đất nước tôi, các vụ cháy rừng đang hoành hành, đòi hỏi phải sơ tán các cộng đồng và làm kiệt quệ lực lượng cứu hỏa cùng các nguồn lực của họ. Theo báo cáo, chỉ riêng ở Ontario, vào đầu mùa hè, diện tích đất bị cháy đã nhiều hơn tổng diện tích bị cháy trong tất cả các vụ cháy năm ngoái cộng lại. Mặc dù nhiều vụ cháy xảy ra ở những khu vực ít dân cư, nhưng ô nhiễm không khí từ những đám cháy này lan đến các khu vực đông dân cư trên khắp Bắc Mỹ, gây ra những thời kỳ u ám như ngày tận thế.

Edward Schillebeeckx OP được biết đến rộng rãi là một trong những nhà thần học có năng lực và dũng cảm nhất, có khả năng và sẵn sàng đối diện với sự căng thẳng mang tính sáng tạo, dù thường gây khó khăn, giữa giáo lý Kitô giáo và học thuật Kinh Thánh.

Schillebeeckx từng chỉ ra trong cuốn sách Christ: The Experience of Jesus as Lord (1983) rằng thần học của người bị áp bức không phải là thần học của người hoán cải… và cả hai đều có điều quan trọng để nói.

Trong khi đối tác đối thoại của hầu hết thần học Tây Âu vốn là người không tin, như trong trường hợp người theo chủ nghĩa nhân bản vô tín, thì đối thoại của hầu hết thần học phi phương Tây lại là người bị áp bức, người bị lệ thuộc như nạn nhân của các hệ thống xã hội của chúng ta.

Schillebeeckx nói rằng chính ở đây chúng ta đang đối diện với vấn đề áp bức hiện đại trong giai đoạn phát triển ý thức con người hiện nay. Chúng ta quan tâm đến đồng loại và thiên nhiên mà tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào để sinh sống, và giờ đây cùng nhau chịu đựng sự bóc lột và áp bức không chỉ từ những người khác, mà quan trọng hơn là từ một hệ thống kinh tế - xã hội và chính trị dường như đang hoạt động như một thế lực vô hình nhưng lại rất thực tế về hậu quả đối với con người và tự nhiên.

Hậu quả hiện nay khiến cho những sự phân biệt trước đây giữa bóc lột và áp bức về kinh tế, xã hội, sinh thái, thậm chí cả tinh thần hay tâm lý ngày càng trở nên ít rõ ràng hơn.

Mô hình và thực tiễn phát triển kinh tế thống trị của chúng ta ngày càng được coi là đang đe dọa điều kiện sống thực tế của nhiều người và các điều kiện tự nhiên cần thiết cho sinh kế chính đáng của họ. Đây là một tình trạng áp bức liên tục và ngày càng gia tăng trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, dường như khiến cho cá nhân ngay từ đầu không thể tìm thấy thời gian hay năng lực để trở nên chính trực.

Đây không phải là sự đau khổ vì Nước Chúa hay vì chính nghĩa. Đó chỉ đơn giản là sự đau khổ câm lặng. Theo Schillebeeckx, người đã viết cách đây gần 50 năm, đây là hoặc nên là tình trạng nhận thức thần học mới của chúng ta. Nó rất mới so với hầu hết những gì Kinh Thánh nói, ngoại trừ câu chuyện Kinh Thánh cổ nhất về sự than khóc của người Do Thái về cảnh nô lệ và sự thờ thần tượng liên quan, điều đã khiến Thiên Chúa đến và ở giữa dân Người, bất kể họ có thánh thiện hay không.

Schillebeeckx nói rằng có những thôi thúc tương tự trong Tân Ước mà vẫn chưa được bộc lộ đầy đủ vì Giáo hội quá tập trung vào bản thân thay vì tập trung vào tiên tri Giê-su. Giáo hội có xu hướng tự nhận mình là thân thể của Chúa Kitô, do đó đã không làm tròn bổn phận đối với những mối quan tâm thực sự của Ê-phê-sô và Cô-lô-sê.

Có một ý thức hiện đại mới được thể hiện đúng đắn trong điều gọi là “quyền con người” của tất cả mọi người, chứ không chỉ của người tốt và công chính, không chỉ của các thành viên trong gia đình đức tin.

Schillebeeckx nói rằng Tân Ước bác bỏ quan điểm phiến diện như vậy, khẳng định rõ ràng rằng “Thiên Chúa hằng sống là Đấng cứu rỗi tất cả” cũng như “của những người tin” (1 Tm. 4:10).

Một phản ứng chính trị chống lại hành động vì khí hậu

Vì vậy, hiện nay chúng ta đang đối diện với một tình hình toàn cầu mà nhiều người cho rằng đã có thể dự đoán được và đã được cảnh báo trong các báo cáo liên tiếp của Ủy an Liên Chính Phủ về Thay đổi Khí hậu (IPCC) của Liên Hợp Quốc. Các giải pháp cũng đã được biết đến – đó là chúng ta phải ngay lập tức và khẩn trương giảm lượng khí thải nhà kính và loại bỏ dần việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch càng nhanh càng tốt.

Tuy nhiên, ở một số bộ phận và trong một số nhóm giàu có, đặc biệt là giới tỷ phú, đã có sự gia tăng đáng kể sự phản đối đối với các chính sách khí hậu và bảo vệ môi trường, và do đó việc đầu tư vào dầu khí vẫn tiếp tục.

Có thông tin cho rằng các lợi ích của giới tài chính thậm chí còn tăng cường đầu tư vào phát triển nhiên liệu hóa thạch trong giai đoạn 2024-2025. Sự phản kháng và thoái lui này của các nhà lãnh đạo chính trị và chính phủ hiện tại về bảo vệ môi trường được dẫn đầu bởi các thế lực ở Mỹ, nơi cả sự phủ nhận và sự che đậy đều được đẩy mạnh dưới thời tổng thống Trump.

Gần hơn ở Canada, chẳng hạn, đáng chú ý là dưới chính phủ Tự do mới của Mark Carney, các nhà vận động hành lang cho nhiên liệu hóa thạch đã có thể gặp gỡ các quan chức chính phủ tới 1,300 lần trong năm đầu tiên Carney nhậm chức, tương đương với khoảng năm lần tiếp xúc mỗi ngày làm việc.

Các nhà quan sát và phân tích sát sao hiện nhận thấy một sự rạn nứt nghiêm trọng giữa lợi ích của giới tư bản và lợi ích của khoa học.

Thách thức về mặt tư tưởng rõ ràng này cũng được xem như một cơ hội chiến lược để đối phó với điều hiện đang trông rất giống “tội phạm do nhà nước bảo trợ”, nơi mà ngay cả trong một số trường hợp, các phán quyết gần đây của tòa án cũng bị phớt lờ và dường như có một sự sẵn sàng có hệ thống và rộng rãi từ phía giai cấp thống trị để hy sinh nền văn minh nhân loại và sự giàu có, vẻ đẹp của thiên nhiên vì lợi ích của hệ thống kinh tế này và sức mạnh và luận lý họcc dường như vô danh của nó mà Schillebeeckx đã suy tư về mặt thần học cách đây không lâu.

Tại Pháp, nhiều nhà khoa học, bác sĩ, nhà nghiên cứu, triết gia và nghệ sĩ đã kêu gọi một “luật khẩn cấp về khí hậu” nhằm ngăn chặn các công ty tham gia vào bất cứ dự án nhiên liệu hóa thạch mới nào — mỏ than, mỏ khí đốt, giếng dầu. Nó cũng sẽ bãi bỏ tất cả các khoản trợ cấp cho nhiên liệu hóa thạch.

"Mặc dù thế giới đã sống sót qua Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất, nhưng vẫn có những nghi ngờ nghiêm trọng về khả năng sống sót qua một cuộc chiến tranh lạnh lần thứ hai do những hậu quả kinh tế và sinh thái nghiêm trọng, cùng với những rủi ro thực sự đối với sự sống trên toàn cầu do chiến tranh hạt nhân gây ra”.

Trung Quốc tìm kiếm một nền văn minh sinh thái

Trung Quốc cũng phải đối mặt với những vấn đề môi trường nghiêm trọng. Những vấn đề này càng trầm trọng hơn cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, đã có đề xuất rất nghiêm túc về việc xây dựng một “nền văn minh sinh thái”, với cam kết này được ghi chép long trọng vào hiến pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012.

Tình hình của Trung Quốc đã rơi vào khủng hoảng khi nhiều nhà phân tích dự đoán rằng những lợi ích kinh tế của quốc gia có thể sẽ bị chi tiêu cho chi phí y tế gia tăng và tổn thất năng suất.

Khi được hỏi nguyên nhân của những vấn đề môi trường này là gì, câu trả lời thường thấy là do sự thất bại trong việc thực thi pháp luật, đặc biệt là luật môi trường. Điều này được đề xuất như là cách hiệu quả nhất để xây dựng một nền văn minh sinh thái: đó là tăng cường luật môi trường và khung pháp lý.

Tuy nhiên, bằng chứng thực tế cho thấy tác dụng của luật và quy định môi trường rất hạn chế, thậm chí là vô dụng. Tại sao lại như vậy? Bởi vì các vấn đề môi trường không chỉ đơn thuần là vấn đề pháp lý. Chúng còn là các vấn đề xã hội, chính trị, văn hóa và triết học. Vai trò của tư bản và các nhóm lợi ích đặc biệt rất quan trọng, cũng như mô hình phát triển và thế giới quan và giá trị lấy con người làm trung tâm đang thống trị. Về mặt triết học, cả “chủ nghĩa Mác sinh thái” và “chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo” đều được coi là những nguồn lực triết học giúp tạo dựng một nền văn minh sinh thái nói chung, cả về văn hóa và thực tiễn, nhằm cải thiện công tác bảo vệ môi trường của Trung Quốc.

Dù khó khăn đến đâu, Trung Quốc vẫn nhận thấy cần phải thay đổi căn bản phương thức sản xuất và lối sống tư bản chủ nghĩa để xây dựng một nền văn minh sinh thái. Bởi vì Trung Quốc trên thực tế đã trở nên nghiện tăng trưởng kinh tế, nên trong xã hội tồn tại sự phản kháng mạnh mẽ đối với một nền văn minh sinh thái.

Ở Trung Quốc tồn tại một hệ tư tưởng phát triển hiện đại hóa một chiều, trong đó môi trường trở thành công cụ chính trị và xã hội phục vụ luận lý học tăng trưởng kinh tế của tư bản, được kỳ vọng sẽ giải quyết mọi vấn đề xã hội quan trọng.

Hệ tư tưởng này ăn sâu vào văn hóa – ví dụ, các nhà bảo vệ môi trường phản đối dự án đập lớn trên sông Nu, được cho là gây hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái địa phương, lại bất ngờ được người dân bản địa ủng hộ, những người mong muốn sự phát triển khu vực và lợi ích kinh tế.

Một lần nữa, cái gọi là thế giới quan lấy con người làm trung tâm ở Trung Quốc hiện đại ăn sâu vào văn hóa.

Vì vậy, chỉ dựa vào luật lệ và quy định là chưa đủ để tạo ra một nền văn minh sinh thái. Cần có các đồng minh, và một đồng minh trí thức và tư tưởng quan trọng được tìm thấy trong ảnh hưởng mà triết học tốt có thể tác động đến văn hóa. Trong giới trí thức Trung Quốc, điều này đặc biệt được tìm thấy trong chủ nghĩa Mác sinh thái và cái gọi là “chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo”.

Đối với những người theo chủ nghĩa Mác Trung Quốc tin rằng sứ mệnh của triết học là thay đổi thế giới, chủ nghĩa Mác sinh thái được coi là giải pháp Mác-xít cho cuộc khủng hoảng sinh thái tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác sinh thái đã phải đối diện với nhiều thách thức. Hãy giải đáp những lời chỉ trích và câu hỏi đặt ra: nếu chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân của khủng hoảng sinh thái, một luận điểm trung tâm của chủ nghĩa Mác sinh thái, thì tại sao nó lại dường như nghiêm trọng hơn ở Trung Quốc xã hội chủ nghĩa?

Đây là vấn đề mà các học giả và nhà phân tích Trung Quốc bắt đầu thừa nhận và đối diện từ năm 2013: rằng các vấn đề sinh thái chắc chắn đang gia tăng tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo có nguồn gốc lý thuyết quan trọng ở phương Tây và đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Nó dựa trên triết học tiến trình của A.N. Whitehead, người từng giảng dạy tại cả Cambridge và Harvard, và đặc biệt được thúc đẩy ở Trung Quốc bởi các học trò của Whitehead, John Cobb và David Griffin của Đại học Claremont ở California.

Đây là một cách tư duy đã thu hút sự chú ý và trí tưởng tượng của nhiều nhà tư tưởng Trung Quốc và được coi là có khả năng diễn đạt một thế giới quan và thực tiễn đa nguyên nhưng vẫn tích hợp.

Nó mang tính hậu hiện đại không phải theo nghĩa phản hiện đại mà theo nghĩa cố gắng xây dựng dựa trên những khía cạnh tốt nhất của hiện đại và truyền thống Trung Quốc, từ đó tạo ra một cách tư duy mới mang tính quan hệ hơn.

Thật đáng kinh ngạc khi chủ nghĩa hậu hiện đại mang tính xây dựng đã bén rễ sâu rộng trong các cơ sở giáo dục đại học Trung Quốc. Không có trường phái triết học phương Tây nào khác ngoài triết học tiến trình và chủ nghĩa hậu hiện đại mang tính xây dựng lại hấp dẫn đối với Trung Quốc đến vậy, cũng như triết học phân tích hay hiện tượng học, những ngành có ảnh hưởng lớn ở phương Tây. Sự giao thoa này phần lớn là nhờ nỗ lực của hai học giả người Mỹ, John Cobb và David Griffin, và ảnh hưởng của nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực triết học. Phạm vi ảnh hưởng của nó mang tính liên ngành, thậm chí còn định hướng cả việc nghiên cứu lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tuy nhiên, vẫn còn đó sự lan rộng của các phương pháp và giá trị tư bản chủ nghĩa, thực tế đối phó với khủng hoảng sinh thái, và khát vọng xây dựng một nền văn minh sinh thái.

Cả những người theo chủ nghĩa Mác và những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại mang tính xây dựng đều được xem là có vai trò quan trọng trong việc cải thiện luật pháp và xây dựng một nền văn minh sinh thái.

Ở Trung Quốc, những lối tư duy này được hiểu là đại diện cho các phương pháp lý thuyết và tư tưởng chồng chéo và, ở một mức độ đáng kể, bổ sung cho nhau, trong đó chủ nghĩa Mác, đặc biệt là chủ nghĩa Mác sinh thái, giúp suy nghĩ về việc giải quyết khủng hoảng sinh thái trên phương diện định chế và cấu trúc, trong khi chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo giúp suy tư về cuộc khủng hoảng này trên phương diện văn hóa và tinh thần.

Người ta thừa nhận rằng chủ nghĩa Mác sinh thái và chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo, mỗi truyền thống đều có những trọng tâm riêng và khác nhau, nhưng vẫn có sự chồng chéo và thậm chí là “sự hòa hợp tầm nhìn” trong những đóng góp tương ứng của chúng vào cuộc đấu tranh thực tế ở Trung Quốc để giải quyết cuộc khủng hoảng môi trường.

"Mặc dù Trung Quốc có sự ngờ vực sâu sắc, có lẽ vì những lý do lịch sử chính đáng, đối với mô hình phát triển kinh tế bành trướng của phương Tây, Trung Quốc vẫn mở cửa với một số yếu tố ở phương Tây và, như chúng ta thấy, đã học hỏi từ các trí thức và học giả phương Tây”.

Chủ nghĩa Mác sinh thái coi khủng hoảng sinh thái là một cuộc khủng hoảng thời đại lớn hơn nhiều so với khủng hoảng kinh tế vì nó đe dọa sự tồn tại lâu dài của cả con người và các dạng sống khác, và do đó kêu gọi một cuộc cách mạng sinh thái.

Chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo cũng coi khủng hoảng sinh thái là mối đe dọa đối với chính nền văn minh và trong tương lai rất gần nếu không chủ động tìm kiếm một giải pháp thay thế. Cả hai triết lý đều được xem là giúp con người nhận thức được thực tại vật chất lịch sử của mình.

Và với vai trò là quốc gia đang phát triển lớn nhất thế giới, chiếm 20% dân số thế giới, 9% đất canh tác và 6% nguồn nước ngọt, cả hai hình thức tư duy và thực tiễn — chủ nghĩa Mác sinh thái và chủ nghĩa hậu hiện đại kiến tạo — đều góp phần nhấn mạnh sự cần thiết phải ưu tiên con người và lao động của họ (so với tư bản) khi xem xét cẩn thận vấn đề sinh kế của người dân trong việc đưa ra các quyết định về môi trường. Không còn sự bắt chước máy móc các con đường phát triển và luật môi trường của phương Tây nữa.

Hướng tới sự hợp nhất các tầm nhìn

Thật không may, có những thế lực to lớn bên trong Hoa Kỳ đang thúc đẩy một cuộc Chiến tranh Lạnh mới chống lại Trung Quốc.

Đây là phản ứng gần như không thể tránh khỏi trước sự trỗi dậy về kinh tế và kỹ thuật của Trung Quốc, việc theo đuổi dự án chủ quyền riêng biệt của mình, và điều mà nhiều người cho là sự kết thúc đi kèm của sự thống trị đơn cực của Mỹ trên thế giới.

Mỹ đã từng theo đuổi một đường lối địa chính trị hung hăng như vậy để thống trị cả Liên Xô và Trung Quốc sau Thế chiến II.

Mặc dù thế giới đã sống sót qua cuộc Chiến tranh Lạnh đầu tiên, nhưng vẫn có những nghi ngờ nghiêm trọng về khả năng sống sót qua cuộc chiến tranh lạnh thứ hai do những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và sinh thái, cùng với những rủi ro thực sự đối với sự sống trên toàn cầu do chiến tranh hạt nhân gây ra.

Rõ ràng, bất chấp sự ngờ vực sâu xa của Trung Quốc, có lẽ vì những lý do lịch sử chính đáng, đối với mô hình phát triển kinh tế bành trướng của phương Tây là một yếu tố quan trọng, Trung Quốc vẫn mở cửa đón nhận một số yếu tố từ phương Tây và, như chúng ta thấy, đã học hỏi từ các nhà trí thức và học giả phương Tây.

Vấn đề hiện nay trở thành việc hiểu biết liên văn hóa sâu sắc hơn trên cơ sở điều mà Hans Gadamer và Charles Taylor gọi là sự hợp nhất các tầm nhìn.

Điều này đòi hỏi đối thoại, ngoại giao, đàm phán và sự thừa nhận lẫn nhau giữa các định chế, nhóm và cá nhân về những thách thức và cơ hội liên văn hóa thực sự và phức tạp mà Trung Quốc và phương Tây đang cùng nhau đối diện tại thời điểm lịch sử này.

Điều này chắc chắn cũng có lợi cho toàn thế giới.

Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề nhận thức luận sâu sắc và nghiêm trọng, và nó đòi hỏi phải gạt bỏ hoặc vượt qua bất cứ cảm giác nào còn sót lại về chủ nghĩa ngoại lệ bá quyền của Mỹ.

Bởi vì tầm nhìn của mỗi người xác định bối cảnh xung quanh mà trong đó mọi điều chúng ta nói và làm đều có ý nghĩa, chúng ta phải sẵn sàng thừa nhận rằng những người khác thuộc các xã hội và nền văn hóa khác cũng đang tiếp xúc với thực tại giống như chúng ta.

Điều này có nghĩa là người dân của hai xã hội và nền văn hóa khác nhau hoàn toàn có thể hiểu cuộc sống của họ rất khác nhau và có thể gặp khó khăn lớn trong việc hiểu nhau, đặc biệt nếu họ vẫn khép kín trong những khuôn khổ nhất định hoạt động trong phạm vi nhận thức riêng của mình.

Tuy nhiên, cả bản thân mình lẫn người đối thoại đều không bao giờ hoàn toàn sai và, quan trọng hơn cả, với cuộc đối thoại chân thành và sự khéo léo, các phạm vi nhận thức có thể được xác định và phân biệt, trên cơ sở đó chúng ta có thể nắm bắt được điều gì đang làm sai lệch sự hiểu biết và cản trở thông đạt.

Nhưng đồng thời, những phạm vi nhận thức này cũng phát triển và thay đổi. Chúng không cố định vĩnh viễn. Chúng là thứ mà chúng ta hướng tới và chúng cũng hướng tới cùng với chúng ta.

Một “rủi ro trong sự cởi mở” nhất định của con người và điều mà Gadamer và Taylor gọi là “lòng bác ái” là cần thiết.

Bất cứ quan điểm nào khẳng định chắc chắn rằng, như một điều kiện để hiểu người khác theo cách suy nghĩ và hành động của riêng họ, người ta chỉ có thể hiểu người khác theo cách hiểu của riêng mình, thì phải bị loại bỏ và vượt qua như một tàn dư của chủ nghĩa đế quốc tri thức luận [epistemological imperialism].

Lập trường đơn điệu như vậy có tác động tiêu cực nghiêm trọng đến mọi hoạt động giao tiếp hay ngoại giao giữa các nền văn hóa, và trong trường hợp này, thậm chí có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của thế giới chúng ta.