1. Đức Hồng Y Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, bày tỏ lo ngại về sức khỏe của Đức Giáo Hoàng nhưng tin tưởng các bác sĩ.

"Tôi hy vọng tình hình này có thể được giải quyết càng sớm càng tốt."

Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh vừa vào thăm Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, cho biết ngài lo ngại về sức khỏe của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sau ca phẫu thuật ung thư phổi nhưng tin tưởng các bác sĩ tại Bệnh viện Gemelli hàng đầu ở Rôma.

"Tôi vẫn lo lắng, bởi vì tôi thực sự vô cùng lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra," Đức Hồng Y Parolin đưa ra lập trường trên bên lề một sự kiện do Đại sứ quán Iraq tại Tòa Thánh tổ chức. Ngai cho biết như trên khi nói về tình trạng sức khỏe của vị Giáo Hoàng người Mỹ 71 tuổi trong lúc chờ kết quả sinh thiết để xem liệu ung thư có di căn từ khối u ác tính đã được cắt bỏ hôm thứ Ba hay không.

"Nhưng tôi tin tưởng vào thông tin được cung cấp trong các bản tin y tế, và do đó tôi hy vọng rằng tình hình này có thể được giải quyết càng sớm càng tốt." Đức Lêô, người gốc Chicago và vốn là một vận động viên thể thao, đang hồi phục tốt và đã bắt đầu làm việc trở lại ngay trong phòng bệnh.

"Tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên trước sự điềm tĩnh mà Đức Giáo Hoàng đã thể hiện khi công bố sự can thiệp này. Chúng tôi hy vọng ngài có thể giải quyết vấn đề này càng sớm càng tốt. Chúng tôi tin tưởng, nhưng rõ ràng là chúng tôi vẫn cầu nguyện cho ngài." Đây là lời phát biểu của Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Pietro Parolin khi tham dự một hội nghị tại Đại học Grêgôriô. Hồng Y Parolin giải thích rằng ngài đã gặp Đức Giáo Hoàng tối qua: "Chúng tôi đã nói chuyện rất bình tĩnh. Tôi có lo lắng không? Có, bởi vì tôi chắc chắn không ngờ điều này lại xảy ra." Sau đó, Hồng Y Parolin được hỏi liệu thông báo này có gây bất ngờ cho Tòa Thánh hay không: "Chắc chắn là có, không ai ngờ tới điều đó."

Về khối u của Đức Giáo Hoàng, Hồng Y nói thêm: "Thật may mắn là chúng tôi đã phát hiện ra ngay lập tức. Thông thường, khi những vấn đề này được phát hiện sớm, chúng có thể được giải quyết. Nhưng đây, như Đức Giáo Hoàng đã nói, là những điều bất ngờ của Chúa."

Sinh thiết là gì? Thưa: Sinh thiết tiếng Anh gọi là biopsy là thủ thuật y khoa lấy một mẫu mô hoặc tế bào nhỏ từ cơ thể người bệnh để mang đi kiểm tra, phân tích dưới kính hiển vi nhằm chẩn đoán bệnh (như ung thư, viêm nhiễm).

Các phương pháp sinh thiết phổ biến:

Thứ nhất: Sinh thiết kim / chọc hút kim nhỏ (FNA): Dùng kim nhỏ lấy dịch hoặc tế bào từ khối u.

Thứ hai là Sinh thiết lõi hay Core biopsy là dùng kim lớn hơn để lấy nguyên một mảnh mô nhỏ giữ nguyên cấu trúc.

Thứ ba là Sinh thiết bấm hay Punch biopsy là dùng một dụng cụ tròn nhỏ để bấm lấy một mẩu da (thường dùng trong da liễu).

Thứ tư là Sinh thiết nội soi: Trong trường hợp này các bác sĩ dùng ống nội soi đưa vào cơ thể để lấy mẫu bên trong.

Thứ năm là Sinh thiết cắt bỏ: Các bác sĩ cắt một phần hoặc toàn bộ khối u trong phẫu thuật để kiểm tra. Đó là trường hợp các bác sĩ đang áp dụng đối với Đức Thánh Cha Lêô XIV.


Source:ANSA



2. Đức Giáo Hoàng Lêô đang ăn uống, cử hành Thánh lễ và đi bộ sau ca phẫu thuật ung thư, nhưng chuyến đi vẫn còn bỏ ngỏ.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã trở lại chế độ ăn uống bình thường, bắt đầu đi bộ và cử hành Thánh lễ tại bệnh viện hôm thứ Thứ Năm, 15 Tháng Mười, khi ngài đang hồi phục sau ca phẫu thuật cắt bỏ khối u ung thư ở phổi, theo thông báo của Vatican. Vẫn còn những câu hỏi về việc liệu ung thư đã di căn hay chưa, trong khi tổng thống Peru cho rằng Đức Giáo Hoàng Lêô có thể phải thay đổi kế hoạch thăm Mỹ Latinh vào tháng tới.

Hai bác sĩ của Đức Giáo Hoàng, cho biết kết quả xét nghiệm máu và chụp X-quang ngực cho thấy Đức Thánh Cha năm nay 71 tuổi, đang hồi phục bình thường.

"Đức Thánh Cha đã trải qua vật lý trị liệu hô hấp và bắt đầu đi lại trong phòng. Ngài đã ăn uống trở lại bình thường, ăn sáng và ăn trưa", bác sĩ Luigi Carbone, bác sĩ riêng của Đức Thánh Cha, và bác sĩ Stefano Margaritora, trưởng khoa phẫu thuật lồng ngực tại bệnh viện Gemelli cho biết. "Quá trình hồi phục đang diễn ra theo đúng kế hoạch."

Ca phẫu thuật hôm thứ Ba đã xác nhận rằng Đức Lêô mắc ung thư biểu mô tuyến phổi, là loại ung thư phổi phổ biến nhất. Các bác sĩ phẫu thuật đã cắt bỏ thùy dưới của phổi phải của ngài.

Phổi phải có ba thùy và phổi trái có hai thùy. Sau khi một thùy phổi bị cắt bỏ, mô phổi còn lại có thể dần dần bù đắp, đặc biệt là ở những người khỏe mạnh và năng động về thể chất. Đức Lêô nổi tiếng với niềm đam mê thể thao, bao gồm các trận tennis hàng tuần và bơi lội.

Tòa thánh cho biết Đức Giáo Hoàng đã cử hành Thánh lễ với các thư ký của mình vào buổi chiều tại một nhà nguyện đặc biệt được thiết lập cho ngài ở tầng 10 của bệnh viện.

Hiện vẫn chưa có thông tin nào về việc ung thư của Đức Giáo Hoàng đã di căn hay chưa.

Các chuyên gia cho biết một số hạch bạch huyết của Đức Lêô cũng đã được cắt bỏ và xét nghiệm để xác định xem ung thư đã di căn hay chưa. Kết quả xét nghiệm cho đến nay vẫn chưa được công bố.

Nếu ung thư đã di căn, kết quả xét nghiệm sẽ định hướng điều trị, theo bác sĩ Stephen Liu, chuyên gia về ung thư phổi tại Trung tâm Ung thư Toàn diện Lombardi của Đại học Georgetown. Các lựa chọn bao gồm hóa trị, sự kết hợp giữa hóa trị và liệu pháp miễn dịch, hoặc liệu pháp tấn công, sử dụng thuốc viên để điều trị các loại ung thư có đặc điểm cụ thể.

Bác sĩ Liu, người không tham gia vào việc chăm sóc sức khỏe cho Đức Giáo Hoàng, cho biết rằng trong các loại ung thư phổi khác nhau, ung thư biểu mô tuyến có dự đoán tổng thể tốt nhất.

"Mặc dù chúng ta đã biết chẩn đoán, nhưng giờ chúng ta cần biết giai đoạn bệnh," Liu nói. "Chúng ta cần biết kích thước của khối u, có bao nhiêu vị trí trong phổi bị ảnh hưởng. Chỉ có một khối u hay nhiều hơn một, và các hạch bạch huyết, chúng có phải là ung thư không?"

Bác Sĩ PierCarlo Gentile, trưởng khoa xạ trị ung thư tại Bệnh viện San Pietro Fatebenefratelli ở Rôma, cho biết ca phẫu thuật lồng ngực xâm lấn tối thiểu, có hỗ trợ video mà Đức Giáo Hoàng đã trải qua thường cần 15 đến 20 ngày hồi phục. Ông cho biết thêm, các biến chứng sau phẫu thuật, bao gồm nhiễm trùng, rất hiếm gặp.

Những bấp bênh liên quan đến chuyến tông du Mỹ Latinh

Tòa thánh chưa thông báo bất kỳ thay đổi nào đối với chuyến thăm dự kiến của Đức Giáo Hoàng Lêô tới Uruguay, Á Căn Đình và Peru từ ngày 6 đến 17 tháng 11.

Tuy nhiên, Tổng thống Peru Keiko Fujimori hôm thứ Tư cho biết việc Đức Giáo Hoàng được chẩn đoán mắc bệnh và quá trình hồi phục có thể ảnh hưởng đến chuyến thăm, dù bà bày tỏ hy vọng chuyến thăm sẽ vẫn diễn ra. Đức Giáo Hoàng Lêô đã dành hai thập niên làm nhà truyền giáo ở Peru, mang quốc tịch Peru và được giáo dân yêu mến.

Tổng thống Fujimori nói với các phóng viên: "Chúng tôi hiểu rằng quá trình hồi phục này sẽ mất vài tuần, lâu hơn dự kiến. Chúng tôi cũng hiểu rằng lịch trình chuyến thăm của ngài có thể sẽ có một số thay đổi."

Lịch trình đầy tham vọng cho chuyến đi dài nhất trong nhiệm kỳ Đức Giáo Hoàng của ngài trải dài hơn 31.000 km, với hàng chục chuyến bay và hai chuyến trực thăng xuyên qua ba quốc gia, cũng như sự thay đổi độ cao đáng kể ở Peru.

Tổng thống Fujimori cho biết hàng triệu người Peru đang cầu nguyện cho sự hồi phục của Đức Giáo Hoàng và chờ đợi những thông báo tiếp theo từ Vatican.

"Chúng tôi hy vọng ngài sẽ nhanh chóng bình phục và chuyến thăm của ngài có thể diễn ra như dự kiến, nhưng chúng tôi cũng sẽ hiểu nếu điều đó không thể thực hiện được," bà nói. "Điều quan trọng nhất là Đức Thánh Cha sớm hồi phục sức khỏe."

Các bác sĩ phẫu thuật ung bướu thường khuyên bệnh nhân không nên đi máy bay trong vòng ba tuần sau phẫu thuật.

"Nếu chỉ là giai đoạn 1, Đức Giáo Hoàng có thể hoàn thành các chuyến đi này. Nếu cần điều trị thêm, tôi khuyên ngài không nên đi," bác sĩ Liu nói.

Các bác sĩ đã lấy mẫu mô trước khi phẫu thuật.

Đức Giáo Hoàng đã thể hiện sự minh bạch hiếm thấy về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đầu tiên được công khai trong suốt 17 tháng trị vì của mình.

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật, ngài đã tiết lộ việc phát hiện một khối u, hay một khối phát triển bất thường, trên phổi của mình, thông báo điều đó trên truyền hình trực tiếp.

Tòa thánh hiện cho biết các xét nghiệm đó bao gồm sinh thiết phế quản bằng robot, được gọi là nội soi phế quản ION, có nghĩa là các bác sĩ đã lấy mẫu mô để đánh giá xem khối u có phải là ung thư hay không.

Bác sĩ Lorenzo Spaggiari, trưởng khoa phẫu thuật lồng ngực tại Viện Ung bướu Âu Châu ở Milan, cho biết thủ thuật này đòi hỏi gây mê toàn thân và phải được thực hiện tại bệnh viện được trang bị một trong những máy móc tiên tiến. Ngài cho biết bệnh viện Gemelli đã có một máy như vậy khoảng một năm nay.

Tòa thánh không cho biết khi nào Đức Giáo Hoàng Lêô trải qua các xét nghiệm chẩn đoán, bao gồm cả chụp CT ngực có thuốc cản quang và chụp PET.

Bác sĩ Brendon Stiles, trưởng khoa ung bướu phẫu thuật tại bệnh viện Montefiore Einstein ở New York, cho biết chụp PET có thể được sử dụng để bảo đảm rằng bệnh chưa di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể. Giữa kết quả chụp PET và sinh thiết, bác sĩ Stiles nói, "chúng ta có thể yên tâm rằng đây là ung thư giai đoạn một."

Đức Giáo Hoàng phá vỡ truyền thống giữ bí mật về các vấn đề sức khỏe.

Từ lâu, Vatican đã giữ bí mật về sức khỏe của các Đức Giáo Hoàng và kiểm soát chặt chẽ mọi thông tin liên quan — một thông lệ được thể hiện qua câu tục ngữ nổi tiếng của Ý, "Đức Giáo Hoàng vẫn khỏe mạnh cho đến khi qua đời."

Thánh Gioan XXIII qua đời năm 1963, gần một năm sau khi các bác sĩ chẩn đoán ngài mắc ung thư dạ dày, một căn bệnh được giữ kín vào thời điểm đó. Thánh Gioan Phaolô II qua đời năm 2005 sau nhiều năm chịu đựng những ảnh hưởng rõ rệt của bệnh Parkinson, một căn bệnh mà Vatican chỉ xác nhận sau khi ngài qua đời.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô dường như cởi mở hơn về các vấn đề sức khỏe của mình, khi dành thời gian trả lời phỏng vấn một bác sĩ người Á Căn Đình để viết sách về sức khỏe thể chất và tinh thần của ngài. Nhưng cuối cùng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng kiểm soát chặt chẽ thông tin được công bố trong những tháng cuối đời.

Do đó, quyết định của Đức Lêô tự mình công khai việc mình có một khối u và đang trải qua phẫu thuật là một điều rất quan trọng.

"Đó thực sự là một cuộc cách mạng. Cảm giác như thể ngài đang tự mình đọc một bản tin y khoa vậy," Giovanni Maria Vian, một nhà sử học về Giáo hội và cựu tổng biên tập của tờ báo L’Osservatore Romano của Vatican, cho biết.

Vian, người từng là thành viên nhóm truyền thông của Vatican từ năm 2007 đến 2018, cho biết sự ám ảnh của Vatican với việc giữ bí mật là do cả những cân nhắc thực tế và văn hóa. Ngài lưu ý rằng Vatican là một thể chế 2.000 năm tuổi mang đậm bản sắc văn hóa Âu Châu - và người Âu Châu thường kín đáo hơn về các vấn đề sức khỏe so với người dân ở Hoa Kỳ.


Source:CRUXNOW



3. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV mắc bệnh ung thư phổi loại adenocarcinoma. Loại ung thư này nguy hiểm như thế nào, khả năng chữa khỏi ra sao?

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã phải cắt bỏ phần dưới phổi phải sau khi các bác sĩ chẩn đoán ngài mắc phải dạng ung thư phổi phổ biến nhất. Mặc dù ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, nhưng tỷ lệ sống sót có thể cao nếu được phát hiện sớm, như trường hợp khối u của Đức Giáo Hoàng. Dưới đây là một số điều cần biết.

Ung thư biểu mô tuyến phổi hay adenocarcinoma là gì?

Tòa thánh thông báo Đức Giáo Hoàng được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến phổi, một trong nhiều dạng ung thư phổi.

Có hai nhóm chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không tế bào nhỏ. Loại không tế bào nhỏ chiếm phần lớn các trường hợp trên thế giới và ung thư biểu mô tuyến là loại phổ biến nhất. Thậm chí, nó còn có các biến thể có tốc độ phát triển nhanh hoặc chậm hơn.

"Mặc dù vẫn rất nguy hiểm, nhưng tỷ lệ chữa khỏi của nó cao hơn một chút so với các loại ung thư phổi khác," Bác Sĩ John Heymach thuộc Trung tâm Ung thư MD Anderson ở Houston cho biết.

Hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Nhưng có tới 1 trong 5 trường hợp ung thư phổi xảy ra ở những người chưa từng hút thuốc và lý do vẫn chưa rõ ràng, có thể trong một số trường hợp chỉ là do ngẫu nhiên, Heymach cho biết.

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, các nguy cơ khác bao gồm tiếp xúc với khí radon, amiăng, phóng xạ, khói thuốc thụ động và ô nhiễm không khí.

Ung thư phổi được phát hiện như thế nào?

Theo Hiệp hội Ung thư, các triệu chứng ung thư phổi thường không xuất hiện cho đến khi ung thư đã ở giai đoạn tiến triển. Chúng có thể bao gồm ho dai dẳng, đau ngực, khàn giọng, khó thở và viêm phổi hoặc viêm phế quản tái phát - những triệu chứng cần được kiểm tra kỹ lưỡng.

Đôi khi, ung thư phổi có thể được phát hiện sớm khi ai đó chụp X-quang hoặc các phương pháp quét khác cho thấy một đốm trong phổi cần được kiểm tra thêm. Đó được gọi là phát hiện tình cờ, dẫn đến việc các bác sĩ tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng trước khi xuất hiện triệu chứng và có thể đủ sớm để ung thư vẫn còn nhỏ và chưa lan rộng. Trong trường hợp của Đức Giáo Hoàng, một khối u trong phổi của ngài đã được phát hiện trong một lần kiểm tra khác.

Tại Mỹ, việc tầm soát hàng năm bằng chụp CT liều thấp, một loại tia X, được khuyến cáo cho một số người có nguy cơ cao do hút thuốc lá nhiều.

Nó được điều trị như thế nào?

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính khi ung thư phổi được phát hiện sớm, và ngày càng được sử dụng ngay cả ở giai đoạn muộn hơn. Đức Giáo Hoàng đã được phẫu thuật cắt bỏ phần dưới, hay thùy dưới, của phổi phải để bảo đảm loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư.

Phổi phải có ba phần hoặc thùy, trong khi phổi trái có hai. Mỗi thùy có nhánh đường thở riêng và các mạch máu riêng biệt, và khi một thùy bị cắt bỏ, "các thùy khác thực sự sẽ đảm nhận một phần công việc", theo lời Bác Sĩ Trương Bằng (Ben Zhang), bác sĩ phẫu thuật lồng ngực tại Allina Health ở Minneapolis.

Ông cho biết, phổi sẽ dần dần thích nghi trong vài tháng cho đến khi hầu hết mọi người, đặc biệt là những người vốn đã năng động về thể chất, hầu như không nhận thấy sự khác biệt nào khi vận động.

Đức Giáo Hoàng được biết đến là người thường xuyên chơi tennis và bơi lội hàng tuần.

Theo Bác Sĩ Trương, tại Mỹ, thời gian nằm bệnh viện trung bình sau phẫu thuật ung thư phổi là hai đêm. Thời gian này phụ thuộc một phần vào việc bệnh nhân có thể đứng dậy và đi lại nhanh như thế nào, cũng như mức độ đau và thời gian cần thiết để đặt ống dẫn lưu khí và dịch từ lồng ngực.

Đức Giáo Hoàng đã có thể đi lại vào ngày hôm sau, điều mà Heymach gọi là "dấu hiệu điển hình cho thấy sự hồi phục nhanh hơn".

Việc có cần điều trị bổ sung hay không phụ thuộc vào giai đoạn của khối u, dựa trên các yếu tố như kích thước, liệu khối u có dấu hiệu di căn qua hạch bạch huyết hay không, và liệu các dấu ấn sinh học trên tế bào có cho thấy khối u có thể ác tính hay không. Điều trị bổ sung có thể bao gồm hóa trị, được sử dụng trước phẫu thuật để thu nhỏ khối u hoặc sau đó để tiêu diệt các tế bào còn sót lại. Các lựa chọn khác bao gồm xạ trị, liệu pháp miễn dịch hoặc các loại thuốc tấn công vào các yếu tố phân tử cụ thể gây ra khối u.


Source:CRUXNOW



4. Cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Lêô? Hãy cùng tìm hiểu về vị Thánh bảo hộ các vấn đề về phổi.

Trong khi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trải qua ca phẫu thuật phổi và đang hồi phục tại Bệnh viện Gemelli ở Rôma tuần này, các tín hữu có thể cầu xin sự can thiệp của một tu sĩ dòng Phanxicô thế kỷ 15, vị thánh bảo trợ cho các bệnh về phổi và đường hô hấp.

Thánh Bernardine xứ Siena, được biết đến với biệt danh "Tông đồ của nước Ý" vì những nỗ lực khôi phục đức tin Công Giáo của đất nước vào những năm 1400. Ngài nổi tiếng vì đã vượt qua chứng giọng yếu và các vấn đề nghiêm trọng về hô hấp/cổ họng từ sớm trong đời, đồng thời chăm sóc các nạn nhân dịch hạch và những người nằm bệnh viện.

Sinh ra trong một gia đình thượng lưu ở nước cộng hòa Siena của Ý vào năm 1380, Bernardine Albizeschi sớm gặp bất hạnh khi mất mẹ năm 3 tuổi và cha bốn năm sau đó. Dì Diana đã chăm sóc ngài sau đó, dạy ngài tìm kiếm sự an ủi và an toàn bằng cách tin tưởng vào Chúa.

Ngay từ khi còn nhỏ, Bernardine đã thể hiện lòng quan tâm sâu sắc đến người nghèo, xuất phát từ tình yêu thương dành cho Chúa. Vì đã quen với việc nhịn ăn, đôi khi ngài còn sẵn sàng nhịn đói để giúp đỡ những người cần giúp đỡ hơn. Từ 11 đến 17 tuổi, ngài tập trung vào việc học, trau dồi tài hùng biện và lòng súng đạo, là những phẩm chất sẽ phục vụ cho công việc truyền giáo sau này của ngài.

Tuy nhiên, trước khi trở thành một nhà thuyết giáo, Bernardine đã dành nhiều năm chăm sóc những người bệnh và những người sắp qua đời. Ngài gia nhập một hội dòng tôn giáo phục vụ tại một bệnh viện ở thị trấn Scala và cống hiến hết mình cho công việc này từ năm 1397 đến năm 1400.

Trong thời gian đó, một trận dịch hạch nghiêm trọng bùng phát ở Siena, gây ra một cuộc khủng hoảng mà cuối cùng dẫn đến việc chàng trai trẻ phải gánh vác toàn bộ bệnh viện. Bên trong bệnh viện, mỗi ngày có tới 20 người chết vì căn bệnh này, và nhiều nhân viên y tế cũng thiệt mạng. Đội ngũ nhân viên bị giảm sút nghiêm trọng và các nạn nhân mới liên tục được đưa đến.

Bernardine đã thuyết phục 12 thanh niên giúp ngài tiếp nối công việc của bệnh viện, và ngài đã tiếp quản nơi này trong thời gian bốn tháng. Mặc dù không bị bệnh dịch hạch lây nhiễm, nhưng công việc mệt mỏi đã khiến ngài suy yếu và mắc phải một căn bệnh khác khiến ngài phải nằm liệt giường suốt bốn tháng.

Sau khi bình phục, ngài dành hơn một năm chăm sóc dì Bartholomaea cho đến khi bà qua đời. Sau đó, Bernardine, khi đó 22 tuổi, chuyển đến một ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô thành phố, nơi ngài bắt đầu tìm hiểu ý muốn của Chúa về tương lai của mình thông qua cầu nguyện và ăn chay.

Cuối cùng, ngài quyết định gia nhập dòng Phanxicô Nhặt Phép vào năm 1403, sống một cuộc đời khắc khổ tập trung vào nghèo khó và khiêm nhường. Trong thời gian này, khi cầu nguyện trước cây thánh giá, Bernardine nghe thấy Chúa Kitô nói với ngài: "Con ơi, hãy nhìn xem Ta đang treo trên thập giá. Nếu con yêu mến Ta, hoặc muốn bắt chước Ta, hãy cũng bị đóng đinh trần truồng vào thập giá của con và theo Ta. Như vậy con chắc chắn sẽ tìm thấy Ta."

Sau khi được thụ phong linh mục, Bernardine được các bề trên giao nhiệm vụ truyền giáo cho những người Ý đang xa rời đức tin Công Giáo. Thánh Vincent Ferrer, một nhà truyền giáo dòng Đa Minh, ngay trước khi rời Ý, đã giảng một bài thuyết giáo trong đó ngài tiên đoán rằng một trong những người nghe sẽ tiếp tục công việc của ngài giữa những người Ý - một lời tiên tri mà Bernardine đã nghe trực tiếp và đã thực hiện.

Lòng sùng kính cá nhân của Bernardine đối với Chúa, là điều khiến ngay cả những tu sĩ dòng Phanxicô nghiêm khắc cũng phải kinh ngạc, đã làm cho bài giảng của ngài vô cùng hiệu quả. Ngài đã lay động người nghe từ bỏ những thói xấu, quay về với Chúa và sống hòa thuận với nhau. Ngài khuyến khích lòng sùng kính danh Chúa Giêsu như một phương tiện đơn giản và hiệu quả để luôn nhớ đến tình yêu của Chúa.

Khi các linh mục khác đến hỏi ý kiến ngài, Bernardine đã đưa ra một quy tắc đơn giản: "Trong mọi hành động của mình, trước hết hãy tìm kiếm vương quốc của Thiên Chúa và vinh quang của Ngài. Hãy hướng mọi việc mình làm đến sự tôn kính Ngài. Hãy kiên trì trong tình bác ái huynh đệ, và trước hết hãy thực hành tất cả những gì mình muốn dạy cho người khác."

Ngài nói: "Nhờ vậy, Chúa Thánh Thần sẽ làm chủ các con và ban cho các con sự khôn ngoan và tài ăn nói đến nỗi không kẻ thù nào có thể chống lại các con được."

Chính cuộc đời của Bernardine đã chứng minh nguồn sức mạnh này khi đối mặt với thử thách. Ngài kiên nhẫn chịu đựng lời buộc tội dị giáo — là điều mà Đức Giáo Hoàng Martin V đã minh oan cho ngài và tuyên bố rằng đó là một lời tố cao sai sự thật. Ngài cũng từ chối từ bỏ việc rao giảng mạnh mẽ của mình khi một quý tộc đe dọa giết ngài.

Bernardine được ngưỡng mộ rộng rãi khắp nước Ý, và ngài đã được đề nghị chức vụ giám mục ba lần. Tuy nhiên, mỗi lần ngài đều từ chối, chọn cách thực hiện lời tiên tri của Thánh Vincent Ferrer thông qua công việc truyền giáo của mình. Bernardine đã thuyết giảng khắp hầu hết nước Ý nhiều lần, và thậm chí còn hòa giải được các thành viên của các phe phái chính trị đang xung đột.

Về sau, Bernardine làm tổng quản lý cho dòng Phanxicô trong 5 năm và khôi phục lại việc thực hành quy tắc sống nghiêm ngặt của dòng. Sau đó, vào năm 1444, 40 năm sau khi lần đầu tiên bước vào đời sống tu sĩ, Bernardine lâm bệnh trong một chuyến đi. Ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng, nhưng chẳng bao lâu sau mất đi sức lực và giọng nói.

Ngài qua đời vào ngày 20 tháng 5 năm 1444, và chỉ sáu năm sau, vào năm 1450, Đức Giáo Hoàng Nicholas V đã phong thánh cho ngài.


Source:National Catholic Register



5. Đức Hồng Y Müller: Danh hiệu Đồng Cứu Chuộc của Đức Mẹ là một chân lý ‘được chứa đựng trong mặc khải’

Cựu tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin đã bảo vệ danh hiệu Đồng Cứu Chuộc của Đức Mẹ Maria, nói rằng đó "không phải là sự gán ghép sai lệch hay sự phóng đại quá mức, mà là một chân lý khách quan được chứa đựng trong mặc khải."

Kết thúc hội nghị thần học về Đức Mẹ kéo dài hai ngày "De Maria numquam satis" được tổ chức gần Vatican, Đức Hồng Y Müller đã đưa ra một lời bào chữa rõ ràng nhưng kiên quyết cho giáo lý Công Giáo về sự hiểu biết đích thực về sự đồng cứu chuộc của Đức Mẹ.

Đức Hồng Y Müller, cựu tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin từ năm 2012 đến năm 2017, đã phản bác quan điểm của người Tin Lành về sự hợp tác của con người trong vai trò cứu rỗi. Dựa trên nhiều chủ đề được nêu trong Tân Ước, Đức Hồng Y Müller khẳng định rằng "Thiên Chúa không loại trừ chúng ta khỏi công việc cứu chuộc, mà bao gồm chúng ta, cho phép chúng ta tham gia và cộng tác với công việc cứu chuộc và sự hoàn thiện của nhân loại trong sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần."

Do vinh dự to lớn dành cho tạo vật của Chúa khi được cộng tác vào công cuộc cứu độ của Ngài, vị Hồng Y nhận định rằng "Thần học về Đức Mẹ là đỉnh cao của nhân học Công Giáo và là tiêu chuẩn của chính thống giáo Công Giáo, vì toàn bộ sự cứu chuộc phụ thuộc vào việc Chúa đã trao cho Đức Mẹ phẩm giá nhân quả trong việc hoàn thành ý muốn cứu độ phổ quát của Ngài."

Đức Hồng Y Müller sau đó khẳng định mạnh mẽ rằng "khi Đức Mẹ được gọi là ‘Đấng Đồng Cứu Chuộc’ trong lòng đạo đức và thần học Công Giáo, đây không phải là một sự gán ghép sai lệch hay một sự phóng đại quá mức, mà là một chân lý khách quan được chứa đựng trong mặc khải."

Ngài nói thêm rằng, "Đức Mẹ Maria, thông qua sự cộng tác mang tính cấu thành của Mẹ trong sự Nhập Thể, gắn bó mật thiết và không thể tách rời với công cuộc cứu chuộc."

Đức Hồng Y một lần nữa viện dẫn kho tàng phong phú các tác phẩm thần học về Đức Mẹ, lưu ý rằng mỗi khoảnh khắc quan trọng trong cuộc đời và sự cộng tác của Mẹ trong công cuộc cứu rỗi đều có mối liên hệ với nhau:

"Nếu Đức Mẹ Maria, với câu ‘Fiat mihi secundum verbum tuum’, đã cộng tác một cách cấu thành trong sự Nhập Thể, thì điều này cũng bao gồm - thay mặt cho toàn thể nhân loại - sự cộng tác của Mẹ trong công cuộc cứu chuộc qua thập giá của Con Mẹ, người mà Mẹ đã đứng bên cạnh và nơi linh hồn Mẹ bị đâm thấu bởi một thanh gươm."

Danh hiệu Đồng Cứu Chuộc của Đức Mẹ Maria đã được nhiều học giả nghiên cứu về Đức Mẹ đề xuất trong những năm gần đây, khi họ kêu gọi một định nghĩa chính thức từ Đức Giáo Hoàng về danh hiệu này. Phong trào này xuất hiện trong bối cảnh nhiều thế kỷ phát triển về sự trọn vẹn của thần học đằng sau danh hiệu này và đã được đề xuất bởi cả các thánh và các Đức Giáo Hoàng.

Nhưng vào tháng 11 năm ngoái, Hồng Y Victor Manuel Fernández, nhà lãnh đạo hiện tại của Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã công bố Note Mater Populi Fidelis, phản đối việc sử dụng danh hiệu Đồng Cứu Chuộc – mặc dù ngài không, và không thể, lập luận rằng danh hiệu đó là sai. "Với sự cần thiết phải giải thích vai trò phụ thuộc của Đức Mẹ đối với Chúa Kitô trong công cuộc Cứu Chuộc, sẽ không thích hợp nếu sử dụng danh hiệu ‘Đồng Cứu Chuộc’ để định nghĩa sự cộng tác của Đức Mẹ", Hồng Y Fernández nói.

Văn bản này nhanh chóng bị các nhà nghiên cứu về Đức Mẹ hàng đầu chỉ trích rộng rãi, và Fernández sau đó thừa nhận rằng tiêu đề này có thể được sử dụng trong các cuộc gặp gỡ riêng tư và bởi những người hiểu ý nghĩa truyền thống của tiêu đề đó.

Phát biểu bên cạnh Vatican vào ngày 8 tháng 10, Đức Hồng Y Müller đã phản đối nỗ lực ngăn cản người Công Giáo sử dụng danh hiệu này. Ngài tấn công trước tiên vào các động thái đại kết nhằm dập tắt phong trào Đồng Cứu Chuộc:

"Danh hiệu này không nên bị im lặng chỉ vì sự bác bỏ của những người Tin Lành, những người dựa trên giáo lý về sự công chính hóa của họ, quan niệm về sự cứu chuộc mà không có sự tham gia tự do của con người và do đó làm giảm ý nghĩa của nó; thay vào đó, nó cần được giải thích trong bối cảnh tổng thể của công trình cứu chuộc thần thánh-nhân loại do Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, và Đức Mẹ Maria thực hiện."

Ngài cũng chỉ trích những người phản đối việc sử dụng các danh xưng Kitô học tương tự cho người Công Giáo. Người Công Giáo được biết đến là con cái của Thiên Chúa, các linh mục là những người trung gian và những người đã chịu phép rửa tội được Thánh Phaolô gọi là những người cộng tác với Chúa Kitô trong công việc cứu độ của Ngài. Tuy nhiên, không một danh xưng nào trong số này nghi ngờ Chúa Kitô là Con duy nhất của Thiên Chúa, cũng như bản chất của Ngài là Thượng tế và Đấng Cứu chuộc nhân loại.

Tương tự, Đức Hồng Y Müller nói, thuật ngữ Đồng Cứu Chuộc không nên gây nhầm lẫn hay tranh cãi. "Do đó, bất cứ ai quen thuộc với các nguyên tắc của thần học Công Giáo đều không thể tìm thấy lý do gì để phản đối việc sử dụng tương tự các danh hiệu Kitô học và cứu rỗi."

Đức Hồng Y Müller còn liên kết tất cả các danh hiệu của Đức Mẹ Maria lại với nhau, lưu ý rằng cũng giống như việc tuyên xưng đức tin Công Giáo, chúng không thể tách rời nhau:

"Cũng như tất cả các mầu nhiệm của đức tin Kitô giáo đều được kết nối mật thiết trong phép tương đồng đức tin (analogia fidei) và giải thích lẫn nhau, thì giáo lý tín điều về Đức Mẹ cũng không phải là một tập hợp chủ quan của các yếu tố rời rạc, mà là sự thể hiện nguồn gốc của nó trong mầu nhiệm duy nhất về sự tự mặc khải của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, Con của Ngài, như là chân lý và sự sống của mỗi người, cùng với Mẹ của các tín hữu, nói rằng: ‘Này, tôi là tôi tớ của Chúa.’"

Sự can thiệp của Hồng Y diễn ra vào gần cuối hội nghị về Đức Mẹ học cao cấp được tổ chức tại Augustinianum, ngay dưới bóng của Vatican. Sự kiện này không thể bị xem nhẹ: nó có sự tham gia của hai Hồng Y nổi tiếng và được kính trọng, nhiều nhà nghiên cứu Đức Mẹ hàng đầu và nhà thần học của phủ Đức Giáo Hoàng.

Một số Hồng Y thuộc Giáo triều cũng gửi lời chúc mừng và lời chúc tốt đẹp đến sự kiện này, đáng chú ý nhất là Hồng Y Fernández.

Khi hội nghị kết thúc, phó nhiếp chính phủ Tòa Thánh – Cha Edward Daniang Daleng, OSA – cũng có mặt ngắn gọn để trao quà cho Đức Hồng Y Müller và Hồng Y Burke.


Source:Catholic Herald



6. Bill Gates cảnh báo về mối đe dọa cận kề nhất từ trí tuệ nhân tạo

Bill Gates tiết lộ rằng mối lo ngại lớn nhất của ông về trí tuệ nhân tạo là "những kẻ xấu" lợi dụng nó để khủng bố sinh học và tấn công mạng.

Người đồng sáng lập Microsoft khẳng định hiện nay chưa có biện pháp bảo vệ nào đủ mạnh để ngăn chặn các mô hình trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI mạnh mẽ bị các đối tượng xấu lợi dụng.

Nếu rơi vào tay kẻ xấu, công nghệ này có thể được sử dụng để phá hoại hệ thống tài chính, thực hiện các cuộc tấn công mạng tinh vi và phát triển các loại vũ khí sinh học chưa từng thấy trước đây.

"Mặt trận mà chúng ta có thể sẽ chứng kiến rõ rệt nhất trong năm tới là các cuộc tấn công mạng," ông nói trong một cuộc phỏng vấn với ABC News

"Mối nguy hiểm thực sự hiện nay không phải là việc trí tuệ nhân tạo vượt khỏi tầm kiểm soát. Chúng ta cần phải giải quyết vấn đề đó, nhưng tác động lớn mà nó có thể gây ra còn phải mất nhiều năm nữa."

"Chính những kẻ xấu đang lợi dụng trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực AI, nơi mà người ta có thể loại bỏ tất cả các biện pháp bảo vệ. Hiện tại, điều đó được cho phép. Vì vậy, khi có những kẻ xấu, không có biện pháp bảo vệ, và các mô hình mới nhất, thì trong năm tới, chủ yếu là trong lĩnh vực an ninh mạng, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều bất ngờ tiêu cực."

Lời cảnh báo của Bill Gates, đồng sáng lập công ty Microsoft, mâu thuẫn trực tiếp với Tổng thống Trump, người đã bác bỏ các cảnh báo và lời kêu gọi kìm hãm tốc độ phát triển trí tuệ nhân tạo, coi đó là một "trò lừa bịp".

Ông liên tục đưa ra lập trường trên từ sau một cuộc gọi trực tiếp trên sân khấu với Giám đốc Nvidia Jensen Huang tại hội nghị All-In Summit ở Los Angeles vào tháng 9 năm 2026.

Ông cho rằng những cảnh báo về việc AI sẽ hủy diệt thế giới hay thâu tóm quyền kiểm soát chỉ là trò lừa bịp, đồng thời khẳng định việc làm chậm quá trình phát triển của Mỹ sẽ chỉ có lợi cho các đối thủ chính trị hoặc Trung Quốc.

Tổng thống Trump cũng đề nghị đổi tên AI thành Siêu Trí Tuệ thay vì Trí Tuệ Nhân Tạo.

Lời cảnh báo được đưa ra sau khi Giám đốc điều hành Microsoft, Satya Nadella, kêu gọi các công ty công nghệ coi tất cả các mô hình AI như thể chúng đã bị "xâm phạm" và có khả năng gây nguy hiểm.

Ông kêu gọi các nhà nghiên cứu trí tuệ nhân tạo cần tích hợp các biện pháp bảo vệ vào công nghệ ngay từ giai đoạn đầu phát triển.

Một trong những cơ chế an toàn đó là "phanh khẩn cấp", cho phép bất kỳ người được ủy quyền nào cũng có thể tạm dừng hoặc tắt mô hình nếu nó hoạt động theo cách không phù hợp với lợi ích của con người.

"Chúng ta phải xây dựng những hệ thống khép kín mà chúng ta có thể quan sát hành vi của chúng, kiểm tra giới hạn của chúng và luôn có thể kiểm soát được các hành động," ông viết trong một bài đăng dài trên X vào cuối tuần.

Việc trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI chiếm lĩnh thế giới vừa tiến thêm một bước nữa và con người nên đọc kỹ các ghi chú cập nhật.

"Bất kỳ tác nhân nào đủ năng lực và có quyền truy cập vào các hệ thống quan trọng đều có thể mắc sai lầm hoặc bị xâm phạm, và cấu trúc ngăn chặn và kiểm soát phải tính đến điều đó."

Năm 2026 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ các cuộc tấn công mạng sử dụng trí tuệ nhân tạo, với Anthropic, OpenAI và các phòng thí nghiệm hàng đầu khác báo cáo các sự việc liên quan đến việc các mô hình thử nghiệm xâm nhập vào hệ thống máy tính của các công ty và chính phủ.


Source:MSN