Theo tin Tòa Thánh, từ Nhà thờ Chính Tòa Thánh Giuse, nơi diễn ra cuộc Gặp Gỡ Vì Hòa Bình, Đức Leo XIV đã trở lại Sân Bay Bamenda để chủ tọa Thánh Lễ tại đây với sự tham dự nhiệt tình và đầy hân hoan của rất nhiều tín hữu. Trong bài giảng sau đây, một lần nữa Đức Leo XIV nói đến cuộc đấu tranh đầy gian khổ và khát vọng xây dựng hòa bình của cộng đồng thiểu số nhiều đau khổ này:

Vatican Media


Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Là một người hành hương vì hòa bình và hiệp nhất, tôi rất vui mừng được đến thăm vùng đất của anh chị em và trên hết, được chia sẻ hành trình, những khó khăn và niềm hy vọng của anh chị em.

Những lễ hội long trọng đi kèm với các nghi lễ phụng vụ của anh chị em và niềm vui tuôn chảy từ những lời cầu nguyện mà anh chị em dâng lên là dấu hiệu của sự phó thác tin tưởng của anh chị em cho Thiên Chúa, của niềm hy vọng vững chắc và của việc anh chị em bám chặt, bằng tất cả sức lực của mình, vào tình yêu của Chúa Cha, Đấng đến gần và nhìn với lòng thương xót những đau khổ của con cái Người. Trong Thánh vịnh, chúng ta cùng nhau hát về niềm tin tưởng vào Chúa, điều mà chúng ta được mời gọi phải làm mới hôm nay: “Chúa ở gần những người tan nát cõi lòng, và cứu những người bị vùi giập trong tinh thần” (Tv 34:18).

Thưa anh chị em, có nhiều hoàn cảnh trong cuộc sống làm tan nát trái tim chúng ta và nhấn chìm chúng ta trong đau buồn. Niềm hy vọng của chúng ta về một tương lai hòa bình và hòa giải, trong đó phẩm giá của mỗi con người được tôn trọng và các quyền cơ bản của họ được bảo đảm, liên tục bị thất vọng bởi nhiều vấn đề đang ảnh hưởng đến vùng đất tươi đẹp này. Những vấn đề đó bao gồm nhiều hình thức nghèo đói, mà ngay cả gần đây cũng đã ảnh hưởng đến rất nhiều người giữa cuộc khủng hoảng lương thực đang diễn ra. Có sự tham nhũng về đạo đức, xã hội và chính trị, thể hiện rõ nhất trong việc quản lý của cải, cản trở sự phát triển của các định chế và cơ sở hạ tầng. Chúng ta cũng thấy những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục và chăm sóc sức khỏe, cũng như tình trạng di cư quy mô lớn sang các nước ngoài, đặc biệt là giới trẻ. Thêm vào những vấn đề nội bộ này, thường được thúc đẩy bởi lòng thù hận và bạo lực, là những thiệt hại gây ra từ bên ngoài, bởi những kẻ, nhân danh lợi nhuận, tiếp tục đặt tay lên lục địa châu Phi để bóc lột và cướp bóc.

Tất cả những điều này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất lực và làm giảm sút lòng tự tin. Tuy nhiên, đây là thời điểm để thay đổi, để chuyển đổi câu chuyện của đất nước này. Thời điểm đã đến, hôm nay chứ không phải ngày mai, ngay bây giờ chứ không phải tương lai, để khôi phục lại bức tranh khảm thống nhất bằng cách kết hợp sự đa dạng và giàu có của đất nước và lục địa. Bằng cách này, chúng ta sẽ có thể tạo ra một xã hội nơi hòa bình và hòa giải ngự trị.

Thật vậy, khi một tình huống cứ giữ nguyên như vậy trong một thời gian, chúng ta có nguy cơ rơi vào trạng thái cam chịu và bất lực, bởi vì chúng ta không mong đợi điều gì mới mẻ. Tuy nhiên, lời Chúa mở ra những khả năng mới và mang lại sự biến đổi và chữa lành. Lời Chúa có khả năng lay động trái tim chúng ta, thách thức dòng chảy thông thường của các sự kiện mà chúng ta dễ dàng có nguy cơ quen thuộc, và biến chúng ta thành những tác nhân tích cực của sự thay đổi. Chúng ta hãy nhớ điều này: Chúa là sự mới mẻ, Chúa tạo ra những điều mới mẻ, Chúa biến chúng ta thành những người can đảm, những người bằng cách đối diện với cái ác, xây dựng nên cái thiện.

Chúng ta thấy điều này trong chứng từ của các Tông đồ, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất. Trong khi các nhà chức trách của Tòa Công luận thẩm vấn các Tông đồ, quở trách và đe dọa họ vì họ công khai rao giảng về Chúa Kitô, họ đáp lại: “Chúng tôi phải vâng phục Thiên Chúa hơn bất cứ quyền lực nào của loài người. Thiên Chúa của tổ phụ chúng tôi đã làm cho Chúa Giêsu sống lại, Đấng mà các ông đã giết bằng cách treo Người trên cây thập giá” (Công vụ 5:29-30).

Lòng can đảm của các Tông đồ trở thành tiếng nói của lương tâm, một lời tiên tri, một sự tố cáo điều ác, và đây là bước đầu tiên hướng tới sự thay đổi. Thật vậy, vâng phục Thiên Chúa không phải là một hành động phục tùng áp bức chúng ta hay tước đoạt tự do của chúng ta; trái lại, vâng phục Thiên Chúa giải phóng chúng ta, bởi vì điều đó có nghĩa là phó thác cuộc đời chúng ta cho Người và để lời Người soi dẫn cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Vì vậy, như chúng ta đã nghe trong Tin Mừng, thuật lại phần cuối của cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô, “người nào thuộc về đất thì nói về những điều thuộc về đất, còn người nào đến từ trời thì ở trên hết thảy” (Ga 3:31). Những người vâng phục Thiên Chúa hơn là con người và lối suy nghĩ trần tục sẽ tìm lại được sự tự do nội tâm, khám phá ra giá trị của điều thiện và không cam chịu điều ác. Họ tìm thấy con đường mới trong cuộc sống và trở thành những người xây dựng hòa bình và tình huynh đệ.

Thưa anh chị em, sự an ủi cho những trái tim tan vỡ và niềm hy vọng về sự thay đổi trong xã hội là điều có thể nếu chúng ta phó thác bản thân cho Thiên Chúa và lời Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn ghi nhớ lời khuyên của Thánh Phêrô: vâng phục Thiên Chúa, chứ không phải con người. Vâng phục Người, vì chỉ có Người mới là Thiên Chúa. Điều này kêu gọi chúng ta thúc đẩy sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng. Nó cũng kêu gọi chúng ta phải cảnh giác, ngay cả đối với các thực hành tôn giáo của chính mình, để không rơi vào bẫy pha trộn đức tin Công Giáo với các tín ngưỡng và truyền thống khác có bản chất bí truyền hoặc ngộ đạo, mà trên thực tế thường phục vụ các mục đích chính trị và kinh tế. Chỉ có Thiên Chúa mới giải phóng chúng ta; chỉ có lời Người mới mở ra con đường tự do; chỉ có Thánh Linh của Người mới biến chúng ta thành những con người mới có khả năng thay đổi đất nước này.

Tôi luôn cầu nguyện cùng anh chị em và đặc biệt chúc phúc cho Giáo hội quy tụ tại đây: nhiều linh mục, nhà truyền giáo, tu sĩ và giáo dân, tất cả đều đang nỗ lực trở thành nguồn an ủi và hy vọng. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục con đường này và phó thác anh chị em cho sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria Chí Thánh, Nữ Vương các Tông đồ và Mẹ của Giáo hội.